Chuyên đề tốt nghiệp
Ở châu Á, các công ty BHNT ra đời đầu tiên tại nước Nhật. Năm 1868,
công ty bảo hiểm Meiji của Nhật ra đời. Đến năm 1888 và 1889, hai công ty
khác là Kyoei và Nippon ra đời.
Trên thế giới, BHNT là loại hình bảo hiểm phát triển nhất, năm 1985
doanh thu phí BHNT mới chỉ đạt 630,5 tỷ đô la, và đến năm 2006, doanh thu
phí BHNT toàn thế giới đạt 2014 tỷ đô la.
1.2 Ở Việt Nam.
Tại Việt Nam, BHNT ra đời muộn hơn. Trước năm 1954, Pháp đã du
nhập BHNT vào Miền bắc Việt Nam nhưng chỉ giới hạn ở những người thân
Pháp và những người có địa vị cao. Từ năm 1954 đến năm 1996, ở miền Bắc
chỉ thấy xuất hiện các hội “bảo thọ”. Hội bảo thọ hoạt động theo phương thức
các hội viên đóng góp hội phí và hưởng quyền lợi trong các trường hợp như
ốm đau, tử tuất, mừng thọ. Bản chất của các hội này có những nét đặc trưng
hình thành của BHNT. Ngày 20/3/1996, Bộ Tài Chính đã kí quyết định số
281/TC/QD/TCCB cho phép thành lập công ty BHNT trực thuộc Bảo Việt.
Như vậy Bảo Việt là công ty tiên phong trong lĩnh vực BHNT tại Việt Nam.
Hiện nay thị trường Việt Nam có rất nhiều công ty BHNT cả trong nước lẫn
nước ngoài như Mỹ, Anh, Nhật,…hứa hẹn một thị trường sôi động có tính
cạnh tranh cao và mang lại doanh thu mơ ước.
2. Đặc trưng của hoạt động kinh doanh BHNT.
2.1BHNT vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro.
Đây là một đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT và BH phi nhân
thọ. Thật vậy, mỗi người mua BHNT sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ cho
công ty bảo hiểm (phí bảo hiểm), ngược lại công ty bảo hiểm có trách nhiệm
trả một số tiền lớn (số tiền bảo hiểm) cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm
như đã thoả thuận từ trước khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Số tiền bảo hiểm
được trả khi người được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định và được ấn
định trong hợp đồng. Số tiền này giúp những người còn sống trang trải những
khoản cần thiết như: thuốc men, mai táng, chi phí giáo dục con cái…vv.
Chính vì vậy BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro.
Bùi Thị Ngọc Bảo hiểm thương mại 48
5
Chuyên đề tốt nghiệp
2.2 BHNT đáp ứng được rất nhiều nhu cầu tham gia của người bảo hiểm
Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một
mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia bảo hiểm gặp
sự cố, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia, thì BHNT đã đáp
ứng được nhiều mục đích. Mỗi mục đích đều được thể hiện khá rõ trong từng
loại hợp đồng. Chẳng hạn, HĐBH hưu trí sẽ đáp ứng yêu cầu của người tham
gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, từ đó góp phần ổn định cuộc
sống của họ khi già yếu. HĐBH tử vong sẽ giúp người được bảo hiểm để lại
cho gia đình một STBH khi họ tử vong. HĐBH đôi khi còn có vai trò như vật
thế chấp để vay vốn hoặc BHNT tín dụng thường được bán cho đối tượng đi
vay để họ mua xe hơi, đồ dùng gia đình hoặc dùng cho các mục đích cá nhân
khác… Chính vì đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau nên loại hình bảo
hiểm này ngày càng được nhiều người quan tâm hơn.
2.3 Các hợp đồng BHNT rất đa dạng và phức tạp.
Tính đa dạng và phức tạp của các hợp đồng BHNT thể hiện ở ngay
các sản phẩm. Mỗi sản phẩm BHNT có các hợp đồng khác nhau, thời hạn
khác nhau như 5 năm, 10 năm…Đồng thời các hợp đồng có thời hạn khác
nhau thì khác nhau về STBH, phương thức đóng phí, độ tuổi người tham
gia… Ngay cả trong một bản hợp đồng cũng có mối quan hệ phức tạp của
các bên tham gia. Trong mỗi hợp đồng BHNT có thể có 4 bên tham gia:
người bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ
hưởng quyền lợi bảo hiểm.
2.4 Phí BHNT chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, vì vậy quá trình
định phí là quá trình phức tạp.
Để đem đến một sản phẩm cho khách hàng, các doanh nghiệp bảo hiểm
phải bỏ ra rất nhiều chi phí như chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng…
Đó chỉ là các chi phí quản lý đi kèm, việc định phí bảo hiểm phụ thuộc chủ
yếu vào các yếu tố như:
Độ tuổi của người được bảo hiểm
Tuổi thọ bình quân của con người
Số tiền bảo hiểm
Bùi Thị Ngọc Bảo hiểm thương mại 48
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Thời hạn thanh toán
Phương thức thanh toán
Lãi suất đầu tư
Tỷ lệ lạm phát và thiểu phát của đồng tiền
Những khoản chi này là những khoản chi thực tế phát sinh và thực
chất nó là những khoản chi phí đầu vào được hạch toán một cách chi tiết, đầy
đủ và chính xác để phục vụ trong quá trình định giá. Thế nhưng khi định gía
phí BHNT, một số yếu tố nêu trên phải giả định, như: tỷ lệ chết, tỷ lệ huỷ bỏ
hợp đồng, tỷ lệ lạm phát… Vì thế quá trình định phí rất phức tạp, đòi hỏi phải
nắm vững đặc trưng của mỗi loại sản phẩm, phân tích chiều hướng phát triển
của mỗi sản phẩm trên thị trường.
2.5 BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế, xã hội
nhất định.
BHNT phát triển mạnh hay không phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện
kinh tế xã hội của một nước. Ở các nước phát triển trên thế giới BHNT đã
phát triển hàng trăm năm nay nhưng thực tế ở một số nước vẫn chưa triển
khai được. Để lý giải điều này, hầu hết các chuyên gia kinh tế đều cho rằng,
cơ sở chủ yếu để BHNT ra đời và phát triển bao gồm những điều kiện về kinh
tế - xã hội như:
Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội
Mức thu nhập của dân cư
Tỷ lệ lạm phát của đồng tiền
Tỷ giá hối đoái
Điều kiện dân số
Tuổi thọ trung bình của người dân
Trình độ học vấn
Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh
Ngoài điều kiện kinh tế xã hội, môi trường pháp lý cũng ảnh hưởng
không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của BHNT. Hầu hết ở các nước, luật
kinh doanh bảo hiểm, các văn bản… đều phải ra đời trước khi ngành bảo
Bùi Thị Ngọc Bảo hiểm thương mại 48
7
Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm phát triển. Các văn bản và Luật kinh doanh bảo hiếm sẽ quy định rõ
ràng các vấn đê liên quan tới hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
3. Các loại hình BHNT cơ bản.
3.1 Bảo hiểm sinh kỳ (còn được gọi là bảo hiểm trong trường hợp
sống).
Thực chất của loại hình bảo hiểm này là người bảo hiểm cam kết chi
trả những khoản tiền đều đặn trong một khoảng thời gian xác định hoặc trong
suốt cuộc đời người tham gia bảo hiểm. Nếu người được bảo hiểm vẫn còn
sống trong suốt thời gian được bảo hiểm, công ty bảo hiểm sẽ chi trả tiền bảo
hiểm ghi trong hợp đồng. Sản phẩm bảo hiểm này được thiết kế dựa trên nhu
cầu của người được bảo hiểm, sau một thời gian nhất định có thể nhận được
một khoản tiền để chi trả cho các nhu cầu.
Đặc điểm :
Trợ cấp định kỳ cho người được bảo hiểm trong thời gian xác định
hoặc cho đến khi chết
Phí bảo hiểm đóng một lần
Nếu trợ cấp định kỳ đến khi chết thì thời gian không xác định
Mục đích:
Đảm bảo thu nhập cố định sau khi về hưu hay tuổi cao sức yếu
Giảm bớt nhu cầu phụ thuộc vào con cái hay phúc lợi xã hội khi về già
Bảo trợ mức sống trong những năm tháng còn lại của cuộc đời
Loại hình này rất phù hợp với những người không được hưởng trợ
cấp hưu trí từ bảo hiểm xã hội đến độ tuổi tương ứng với tuổi về hưu đăng kí
tham gia, để được hưởng những trợ cấp định kỳ hàng tháng.
3.2Bảo hiểm tử kỳ (còn gọi là bảo hiểm tạm thời hay bảo hiểm sinh
mạng có thời hạn)
Là loại hình bảo hiểm được ký kết khi người bên bảo hiểm xảy ra cái
chết trong thời gian quy định của hợp đồng. Nếu cái chết xảy ra trong thời
gian hiệu lực của hợp đồng thì công ty bảo hiểm sẽ chi trả STBH cho người
thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm của hợp đồng. Còn ngược lại, nếu cái chết
Bùi Thị Ngọc Bảo hiểm thương mại 48
8
Chuyên đề tốt nghiệp
không xảy ra trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng thì người được bảo
hiểm không nhận được một khoản hoàn phí nào từ số phí bảo hiểm đã đóng.
Đặc điểm :
Thời hạn bảo hiểm xác định
Trách nhiệm và quyền lợi mang tính chất tạm thời
Mức phí bảo hiểm thấp vì không phải lập nên quĩ tiết kiệm cho
người được bảo hiểm
Mục đích:
Đảm bảo các chi phí mai táng chôn cất
Bảo trợ cho gia đình và người thân trong một thời gian ngắn
Thanh toán các khoản nợ nần về những khoản vay hoặc thế chấp
của người được bảo hiểm.
3.3Bảo hiểm hỗn hợp.
Thực chất của loại hình bảo hiểm này là bảo hiểm cả trong trường hợp
người được bảo hiểm bị tử vong hay còn sống. Yếu tố tiết kiệm và rủi ro đan
xen nhau vì thế nó được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới.
Đặc điểm:
STBH được trả khi: hết hạn hợp đồng hoặc người được bảo hiểm bị
tử vong trong thời hạn bảo hiểm.
Thời hạn bảo hiểm xác định
Phí bảo hiểm thường đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt thời
hạn bảo hiểm.
Có thể được chia lãi thông qua đầu tư phí bảo hiểm và có thể được
hoàn phí khi không có điều kiện tiếp tục tham gia.
Mục đích:
Đảm bảo ổn định cuộc sống gia đình và người thân
Tạo lập quỹ giáo dục, hưu trí, trả nợ
Dùng làm vật thế chấp vay vốn hoặc khởi nghiệp kinh doanh…
Khi triển khai BHNT hỗn hợp, các công ty bảo hiểm có thể đa dạng hoá
loại sản phẩm này bằng các hợp đồng có thời hạn khác nhau. Hiện nay sản
phẩm bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp rất được ưa chuộng vì đây là loại hình bảo
Bùi Thị Ngọc Bảo hiểm thương mại 48
9
Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm đáp ứng được rất nhiều mục đích, nhu cầu khác nhau của người tham
gia bảo hiểm.
3.4 Bảo hiểm nhân thọ trọn đời.
Thực chất của BHNT trọn đời cũng là 1 hình thức của bảo hiểm tử kỳ
song đây là loại hình bảo hiểm có một số đặc điểm khác biệt:
STBH trả một lần khi người được bảo hiểm bị chết.
Thời hạn bảo hiểm không xác định.
Phí bảo hiểm có thể đóng một lần hoặc đóng định kỳ và không thay
đổi trong suốt quá trình bảo hiểm.
Phí bảo hiểm cao hơn so với bảo hiểm tử kỳ vì rủi ro chắc chắn sẽ
xảy ra nên STBH chắc chắn phải chi trả.
BHNT trọn đời là loại hình bảo hiểm dài hạn, phí đóng định kỳ và
không thay đổi trong suốt quá trình bảo hiểm. Do đó, đã tạo nên một khoản
tiết kiệm cho người thụ hưởng bảo hiểm vì chắc chắn người bảo hiểm sẽ chi
trả STBH.
Trên thực tế, khi triển khai các loại hình BHNT, nhà bảo hiểm còn
nghiên cứu đưa ra các điều khoản bổ sung để đáp ứng những nhu cầu ngày
càng cao của người dân như:
Điều khoản bổ sung bảo hiểm nằm viện phẫu thuật như
Điều khoản bổ sung bảo hiểm tai nạn: Điều khoản này có đặc điểm
khá toàn diện các hậu quả tai nạn như: người được bảo hiểm bị tàn phế,
thương tật toàn bộ, thương tích tạm thời và bị tai nạn sau đó bị chết (trường
hợp tự tử, tai nạn do nghiện rượu, ma tuý,…sẽ không được hưởng quyền lợi
bảo hiểm).
Điều khoản bổ sung bảo hiểm sức khoẻ: Nhà bảo hiểm cam kết
thanh toán khi người được bảo hiểm bị các chứng bệnh hiểm nghèo như: đau
tim, ung thư, suy gan, suy thận, suy hô hấp…
Trong một số HĐBH còn đưa ra một số điểm bổ sung khác như:
hoàn phí bảo hiểm, miễn thanh toán phí khi bị tai nạn, thương tật…nhằm tăng
tính hấp dẫn thu hút người tham gia.
Bùi Thị Ngọc Bảo hiểm thương mại 48
10
Chuyên đề tốt nghiệp
4. Vai trò của đại lý BHNT trong hoạt động của các công ty BHNT.
Đại lý có vai trò vô cùng quan trọng trong nghành bảo hiểm, nhất là trong
các DNBHNT, họ như là chiếc cầu nối giữa khách hàng và công ty bảo hiểm.
4.1 Đối với DNBHNT.
Đại lý là lực lượng tiếp thị có hiệu quả cao nhất, giúp doanh nghiệp
bán sản phẩm. Thông qua bán hàng, đại lý giải thích cho khách hàng tiềm
năng những điều họ chưa biết hoặc chưa rõ về sản phẩm cũng như thương
hiệu của DNBH. Chính nhờ lực lượng đại lý hùng hậu mà công ty có thể đưa
sản phẩm của mình tới với người tiêu dùng và để người tiêu dùng biết đến
thương hiệu của công ty. Từ đó nhằm nâng cao uy tín và hình ảnh cho công ty
mình trong con mắt của người tiêu dùng
Đại lý cũng là người trực tiếp nhận các thông tin phản hồi về sản
phẩm bảo hiểm từ phía khách hàng. Vì vậy những ý kiến họ đóng góp với
DNBH về các vấn đề chính sách sản phẩm, phát hành và quản lý hợp đồng…
rất có giá trị thực tế, giúp DNBH nghiên cứu, điều chỉnh kịp thời để nâng cao
tính cạnh tranh.
4.2 Đối với khách hàng.
Đại lý BHNT là người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng. Là những
người cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về sản phẩm cho khách hàng.
Do vậy khách hàng tiết kiệm được thời gian và tiền của tìm hiểu thông tin
cũng như sản phẩm về DNBH mà mình muốn mua bảo hiểm.
4.3 Đối với xã hội.
Đại lý BHNT là người cung cấp dịch vụ cho xã hội, mang đến sự đảm
bảo cho các cá nhân, gia đình và xã hội. Do vậy, trên một khía cạnh nào đó,
đại lý BHNT còn góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
II. Đại lý Bảo hiểm nhân thọ.
1. Khái niệm đại lý BHNT.
Theo điều 84, chương IV của Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam thì
“Đại lý bảo hiểm là tổ chức, cá nhân được DNBH ủy quyền trên cơ sở hợp
đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định
của luật này và các quy định của pháp luật có liên quan”.
Bùi Thị Ngọc Bảo hiểm thương mại 48
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Đại lý bảo hiểm thường là những người hoặc các tổ chức trung gian
giữa DNBH và khách hàng, đại diện cho DNBH và hoạt động vì quyền lợi
của DNBH và hưởng hoa hồng đại lý. Đại lý có thể là ngân hàng hay luật sư,
hay sự liên kết giữa các cơ quan. Những tổ chức này làm đại lý bảo hiểm rất
thuận tiện bởi họ tiếp xúc nhiều với khách hàng, đồng thời bảo hiểm là một
dịch vụ bổ sung cho khách hàng của họ.
2. Phân loại đại lý BHNT.
Có nhiều căn cứ để phân loại đại lý BHNT.
2.1 Căn cứ theo tư cách pháp lý.
Theo cách phân loại này chúng ta có thể phân loại đại lý BHNT thành
hai loại:
Đại lý BHNT là cá nhân.
Đại lý BHNT là tổ chức.
2.2Căn cứ theo nhiệm vụ thực hiện
Đại lý chuyên khai thác: Là đại lý chuyên thực hiện nhiệm vụ khai
thác hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cho công ty BHNT.
Đại lý chuyên thu: Là đại lý chỉ có nhiệm vụ thu phí BHNT cho
công ty BHNT.
Cách phân loại này khá hợp lý vì sẽ đảm bảo đại lý có chuyên môn cao
hơn, tận dụng được ưu thế về trình độ, chuyên môn và kinh nghiệm của đại lý
trong công việc.
2.3Căn cứ theo phạm vi và quyền hạn
Đại lý toàn quyền: Là đại lý có quyền hạn rộng nhất, họ có thể đảm
nhận tất cả các khâu công việc và phải đáp ứng yêu cầu rất cao, phải có sự
hiểu biết chuyên sâu về chuyên môn nghiệp vụ cũng như trình độ quản lý.
Tổng đại lý: Tổng đại lý đảm đương việc bán sản phẩm BHNT một
cách độc lập. Tổng đại lý nắm quyền tuyển dụng và điều hành một số đại lý.
Đại lý uỷ quyền: Là đại lý hoạt động dưới sự uỷ quyền của công ty
2.4Căn cứ theo trình độ chuyên môn và thời gian hoạt động
Đại lý BHNT chuyên nghiệp: Là loại hình đại lý chuyên làm việc
cho các công ty BHNT và đây là công việc chính của họ, ngoài hoạt động đại
Bùi Thị Ngọc Bảo hiểm thương mại 48
12
Chuyên đề tốt nghiệp
lý họ không làm thêm một công việc nào khác. Hầu như các doanh nghiệp
BHNT đều hướng tới đại lý chuyên nghiệp
Đại lý BHNT bán chuyên nghiệp: Là những đại lý bán thời gian để
tăng thêm thu nhập nhờ việc đi làm đại lý cho các công ty bảo hiểm. Ngoài
công việc này còn có thể làm các công việc khác, xu hướng hiện nay sẽ giảm
dần lượng đại lý này.
2.5 Căn cứ theo loại hình bảo hiểm và tính chất rủi ro
Đại lý BHNT : Là người được doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ uỷ
quyền thực hiện các hoạt động liên quan đến công việc khai thác bảo hiểm
nhân thọ, thu phí bảo hiểm và các hoạt động khai thác trong khuôn khổ về
quyền và trách nhiệm của đại lý nêu trong hợp đồng đại lý.
Đại lý bảo hiểm phi nhân thọ : Là tổ chức hoặc cá nhân đựơc doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ủy quyền thực hiện các hoạt động liên quan đến
công việc khai thác bảo hiểm phi nhân thọ, thu phí bảo hiểm và các hoạt động
khai thác trong khuôn khổ về quyền và trách nhiệm của đại lý nêu trong hợp
đồng đại lý.
3. Nhiệm vụ của đại lý BHNT.
3.1 Bán sản phẩm BH
Hầu hết các ĐLBHNT đều phải thuyết phục các cá nhân, tổ chức có
nhu cầu tham gia bảo hiểm mua các sản phẩm và dịch vụ do DNBH cung cấp.
Việc bán bảo hiểm thành công hay thất bại phụ thuộc vào khả năng thuyết
phục người khác, vào sự nhanh nhạy, năng động của đại lý.
Đại lý trao đổi với khách hàng các thông tin đầy đủ, chính xác về
DNBH và các sản phẩm bảo hiểm của doanh nghiệp; giải thích về quyền lợi
và nghĩa vụ của khách hàng, tư vấn cho khách hàng ký hợp đồng bảo hiểm
3.2Ký kết hợp đồng
Để ký kết hợp đồng bảo hiểm, trước hết cần xác định các nhu cầu của
khách hàng qua việc phân tích rủi ro. Phân tích rủi ro là phương pháp chính
để xác định các nhu cầu bảo hiểm của khách hàng và có vai trò quan trọng
trong việc bán bảo hiểm. Qua phân tích này, ĐLBHNT có thể thuyết phục
khách hàng tốt hơn và đánh giá rủi ro chính xác để định phí bảo hiểm. Sau khi
Bùi Thị Ngọc Bảo hiểm thương mại 48
13
Chuyên đề tốt nghiệp
khách hàng đồng ý mua SPBHNT thì ĐLBHNT cần phải thực hiện các
nghiệp vụ để ký kết hợp đồng bảo hiểm.
3.3Thu phí bảo hiểm, cấp biên lai hoặc các giấy tờ khác theo sự uỷ
quyền và hướng dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm
Các đại lý bảo hiểm có quyền được lập hoá đơn và thu phí bảo hiểm
cho khách hàng theo sự uỷ quyền của công ty bảo hiểm. Sau khi khấu trừ các
khoản hoa hồng phí của mình, đại lý sẽ gửi số phí còn lại cho công ty. Nếu
đại lý là người chuyên thu, họ sẽ chuyển phí thu được lên cho công ty theo 3
phương thức. Đó là phương thức trên cơ sở từng dịch vụ, phương thức thông
báo, phương thức dựa trên cơ sở tài khoản vãng lai.
3.4Chăm sóc khách hàng
Sau khi kí kết hợp đồng bảo hiểm, đại lý phải thường xuyên giữ quan
hệ với khách hàng, tư vấn kịp thời cho khách hàng muốn thay đổi hoặc bổ
sung vào HĐ BHNT nhằm đảm bảo quyền lợi và thoã mãn nhu cầu của họ.
Đồng thời phản hồi ý kiến từ phía khách hàng cho doanh nghiệp bảo hiểm.
Khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, đại lý phải tham gia vào việc giải quyết
khiếu nại phát sinh từ đơn bảo hiểm do họ bán ra trong một chừng mực nhất
định. Trong một số trường hợp, đại lý chỉ cung cấp cho người tham gia bảo
hiểm địa chỉ liên hệ của phòng giải quyết khiếu nại hoặc nhân viên giải quyết
khiếu nại. Nhưng cũng có trường hợp đại lý thu thập thông tin liên quan đến
khiếu nại rồi gửi những thông tin này cho DNBH để DNBH thu xếp cho nhân
viên giải quyết khiếu nại tiếp xúc với khách hàng.
3.5Thuyết phục khách hàng tái tục
Đại lý phải thường xuyên liên hệ với khách hàng để giới thiệu các sản
phẩm mới, thuyết phục khách hàng tái tục bảo hiểm. Đồng thời thông qua khách
hàng để tìm kiếm các khách hàng mới.
3.6 Các dịch vụ khác
Ngoài các nhiệm vụ cơ bản trên, đại lý còn có nhiệm vụ khác như các
chỉ tiêu về định mức lao động, số lượng hợp đồng, doanh thu phí bảo
hiểm….Các đại lý phải chấp hành các nội quy và quy định của doanh nghiệp
như chế độ sinh hoạt, quy trình nghiệp vụ….
Bùi Thị Ngọc Bảo hiểm thương mại 48
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét