Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Vai trò của CT Scan trong chẩn đoán nguyên nhân tràn khí màng phổi tự phát

VAI TRÒ CỦA CT SCAN TRONG CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN
TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI TỰ PHÁT


TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Tràn khí màng phổi tự phát là một cấp cứu Ngoại khoa Lồng
Ngực Tim Mạch thường gặp trong thực hành lâm sàng hằng ngày. Chụp X
Quang ngực giúp xác định chẩn đoán, nhưng khó xác định tổn thương bệnh
lý của phổi. CT Scan ngực cung cấp bằng chứng về tổn thương kén khí phổi.
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá khả năng phát hiện kén khí phổi bằng CT-
Scan ngực trên bệnh nhân tràn khí màng phổi tự phát
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả, hồi cứu cắt ngang
Kết quả: Có 19 bệnh nhân tràn khí màng phổi tự phát có hình ảnh X Quang
ngực bình thường, CT Scan ngực phát hiện 73,7% trường hợp có tổn thương
dạng kén khí phổi.
Kết luận: CT Scan ngực là phương tiện chẩn đoán hình ảnh hữu ích để xác
định tổn thương kén khí phổi trong bệnh lý tràn khí màng phổi tự phát
nguyên phát.
ABSTRACT
VALEUR OF COMPUTED TOMOGRAPHY IN THE PRIMARY
SPONTANEOUS PNEUMOTHORAX
Le Quang Đinh, Nguyen Hoai Nam * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 13 -
No 1 – 2009: 47 - 53
Objectives: to assess the injury Bullae of Primary Spontaneous
Pneumothorax by computed tomography.
Method of research: a retrospective study.
Results: 19 patients with spontaneous pneumothorax with normal skiagram
chest after management of pneumothorax, were included in the study. In
73.7% of these cases, CT revealed underlying lung bullae as a cause for
primary spontaneous pneumothorax.
Conclusions: Our study shows that CT scan is a useful imaging modality in
determining the lung bullae of primary spontaneous pneumothorax.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tràn khí màng phổi tự phát là một cấp cứu ngoại khoa hay gặp trong thực
hành hàng ngày tại bệnh viện có chuyên khoa Phẫu thuật Lồng ngực và các
bệnh viện chuyên khoa về phổi. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về Tràn khí
màng phổi tự phát chưa có nhiều. theo Nguyễn Thái An
(16)
có tổng cộng 161
trường hợp nhập viện trong 4 năm từ 4/1997 – 12/2000 tại bệnh viện Chợ
Rẫy, tại trung tâm Lao & Bệnh Phổi Phạm Ngọc Thạch thì tràn khí màng
phổi tự phát chiếm 1/12 tổng số nhập viện cấp cứu
(18)
, theo Melton tần xuất
bệnh trong dân số là 7,4 trường hợp ở nam và 1,2 trường hợp ở nữ trong
100.000 dân mỗi năm
(13)
.
Tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát thường xảy ra ở nam cao, gầy, tuổi
từ 20-40 và ít gặp ở người trên 40 tuổi. Điều trị tràn khí màng phổi tự phát
bao gồm: dẫn lưu màng phổi, phẫu thuật cắt kén khí và khâu chổ xì khí của
nhu mô phổi bằng cách mở ngực hoặc nội soi lồng ngực, làm dính màng
phổi kết hợp khi mổ hoặc bằng cách bơm tác nhân làm dính qua ống dẫn lưu
màng phổi.
CT-Scan ngực được xem là phương tiện chẩn đoán tốt nhất trong việc xác
định tổn thương dạng bóng hay kén khí của nhu mô phổi. Theo tác giả Kirk
G. Jordan (1997) nghiên cứu 116 trường hợp tràn khí màng phổi tự phát và
chụp CT-Scan 21 trường hợp thì có 20 trường hợp phát hiện được thương
tổn của nhu mô phổi và màng phổi
(7)
. Theo tác giã Henri Richelme và cộng
sự (1996) nghiên cứu 97 bệnh nhân được phẫu thuật nội soi lồng ngực điều
trị TKMPTP, có 70 trường hợp được chụp CT-Scan thì có 60 trường hợp
phát hiện được thương tổn trên nhu mô phổi
(11)
. Theo John E. Heffner thì
bóng khí được tìm thấy trên CT-Scan là 89%
(16)
.
Gần đây với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thái An (2001) ở 161 trường
hợp tràn khí màng phổi tự phát thì có 9 trường hợp được chụp CT-Scan,
trong đó có 3 bệnh nhân không thấy tổn thương, 1 bệnh nhân thấy bóng khí
một bên phổi, 5 bệnh nhân thấy bóng khí phổi hai bên. Tác giả Sihoe nghiên
cứu hình ảnh CT-Scan của 28 bệnh nhân cho thấy độ nhạy của CT-Scan
trong việc phát hiện bóng khí là 88%, tìm thấy bóng khí đối bên 53,6%
(17)
.
Theo tác giả Adel K. Ayed thì 7,8-20% tổng số cas tràn khí màng phổi tự
phát là tràn khí 2 bên bao gồm cùng lúc và tái phát đối bên, nguy cơ tràn khí
tái phát đối bên sau phẫu thuật là 18-50% vì vậy tác giả này khuyên để giảm
nguy cơ tái phát thì trước khi phẫu thuật nên tìm bóng khí phổi đối bên
(1)
.
Từ đó để xác định quan điểm có nên hay không chụp CT Scan ngực để tìm tổn
thương nhu mô phổi nhất là tổn thương phổi đối bên để có kế hoạch xử trí tốt
thương tổn và chiến lược trong gây mê. Chúng tôi đã tiến hành công trình
nghiên cứu với một số mục tiêu sau:
Đánh giá khả năng phát hiện kén khí phổi bằng CT Scan ngực trên bệnh
nhân tràn khí màng phổi tự phát.
Xác định tỉ lệ phát hiện kén khí phổi bằng CT-Scan ở bệnh nhân TKMPTP.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang và hồi cứu
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: từ tháng 01 / 2006 đến tháng tháng 12 / 2007
Địa điểm: Khoa Ngoại Lồng ngực Mạch máu Bệnh viện Nhân Dân Gia Định
TP.HCM
Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Tràn khí màng phổi tự phát lần đầu được dẫn lưu màng phổi
Tràn khí màng phổi tự phát tái phát cùng bên hoặc đối bên.
Tràn khí màng phổi tự phát hai bên phổi.
Tiêu chuẩn loại trừ
Tràn khí màng phổi tự phát đang dẫn lưu nhưng không hiệu quả, hình ảnh xẹp
hoàn toàn một bên phổi trên X quang ngực kiểm tra.
Bệnh nhân không đồng ý chụp CT Scan ngực.
Thu thập dữ liệu theo bệnh án mẫu.
Nhập dữ liệu vào phần mềm SPSS-11.5.
Mô tả, phân tích, kiểm định kết quả.
So sánh với một số tác giả khác.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian từ tháng 1/2006 đến tháng 9/2007 tại Bệnh viện Nhân Dân Gia
Định, chúng tôi đã thu thập được kết quả nghiên cứu như sau:
Số trường hợp tràn khí màng phổi tự phát nhập viện : 206 trong đó có 24 bệnh
nhân nữ
Số trường hợp tràn khí màng phổi tự phát được chụp CT Scan để xác định kén
khí phổi là 22. Trong đó, tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát là 19 trường
hợp; tràn khí màng phổi tự phát thứ phát 03 trường hợp.
Nghiên cứu chỉ phân tích 19 trường hợp (TH) bệnh nhân tràn khí màng phổi tự
phát nguyên phát được chụp CT Scan.
Đặc điểm nhóm nghiên cứu
Giới tính
Bảng 1: Phân bố theo giới tính
Giới Số bệnh
nhân
Tỉ lệ (%)
Nam 17 89,5
Nữ 2 10,5
Nam chiếm tỉ lệ ưu thế so với nữ.
Tuổi
Tuổi nhỏ nhất là 18, lớn nhất 66 tuổi. Tuổi trung bình : 32,9  15,5.
Đa số bệnh nhân dưới 40 tuổi có 14 trường hợp, chiếm 73,7%.
Bệnh sử
Bảng 2 : Phân bố bệnh với thời điểm xuất hiện triệu chứng
Thời điểm xuất
hiện
Số bệnh
nhân
Tỉ lệ %
Hoạt động gắng
sức
3 15,8
Sinh hoạt thường
ngày
11 57,9
Nghỉ ngơi hoặc
ngủ
5 26,3
Đa số bệnh nhân khởi phát bệnh đột ngột mà không liên quan đến hoạt động
gắng sức. Phép kiểm Chi bình phương cho thấy không có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê giữa các tình huống khởi phát bệnh, p = 0,74 > 0,05.
Bảng 3 : Phân bố thời gian xuất hiện triệu chứng trước nhập viện
Thời gian nhập
viện
Số bệnh
nhân
Tỉ lệ %
Trong ngày 9 47,4
Sau 1 ngày 1 5,3
Sau 2 ngày 4 21,0
Sau 3 ngày 2 10,5
Sau 4 ngày 1 5,3
> 5 ngày 2 10,5
Tổng cộng 19 100
Tiền sử bệnh
Bảng 4 : Các yếu tố nguy cơ
Yếu tố nguy

Số bệnh
nhân
Tỉ lệ %
Hút thuốc lá 12 63,2
COPD 1 5,3
Yếu tố nguy

Số bệnh
nhân
Tỉ lệ %
Lao phổi 0 0
Hút thuốc lá vẫn là yếu tố nguy cơ thường gặp ở các bệnh lý phổi.
Bảng 5: Phân bố tần suất mắc bệnh
Số lần phát
bệnh
Số bệnh
nhân
Tỉ lệ %
TKMP lần đầu 16 84,2
TKMP lần 2
tái phát
2 10,5
TKMP lần 2
đối bên
1 5,3
Triệu chứng lâm sàng :
Bảng 6: Các triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng Số bệnh
nhân
Tỉ lệ %
Đau ngực 17 89,5
Khó thở 15 78,9
Ho đàm 4 22,2
Ho khan 2 11,1
Sốt 1 5,6
Rale ở phổi 1 5,6
Tím tái 0 0
Triệu chứng thường gặp khi thăm khám là đau tức ngực, kế đến là triệu chứng
thở mệt, thở khó. Đây cũng là 2 lý do chính khiến bệnh nhân đi khám bệnh và
nhập viện.
Hình ảnh X quang ngực
Vị trí phổi tràn khí

Mức độ tràn khí :
Lượng ít : 02 BN (10,5%)
Lượng vừa : 09 BN (47,4%)
Lượng nhiều : 08 BN (42,1%)
Tràn dịch màng phổi kết hợp: 3 BN với lượng ít chiếm 15,8%.
Bilan lao phổi
Có 7 bệnh nhân (36.8%) được tầm soát lao phổi, kết quả đều âm tính.
DIỄN TIẾN ĐIỀU TRỊ
Mức độ ra khí sau dẫn lưu

Đa số trường hợp ra khí mức độ ít đến mức độ vừa, chỉ ra bọt khí khi hút bình
với áp lực âm từ 10 -15 cm H
2
O
Có 02 trường hợp, 10,5% không dẫn lưu màng phổi: 01 TH Tràn khí màng phổi
tự phát chọc hút bằng kim thành công, 01 TH Tràn khí màng phổi tự phát rất ít
theo dõi lâm sàng ổn định.
Thời gian xì khí
Thường gặp 2 – 6 ngày. Lâu nhất là 19 ngày có 1TH.
Có 5 trường hợp, 26.3% quyết định phẫu thuật nội soi (3TH) hoặc mở ngực
2TH để khâu kén khí, chổ xì vì dẫn lưu khí màng phổi không hiệu quả.
Tầm soát kén khí phổi
Chụp X quang phổi kiểm tra sau điều trị:
Tất cả bệnh nhân đều được chụp X quang ngực tiêu chuẩn kiểm tra sau điều trị
(dẫn lưu hoặc chọc hút bằng kim) trước khi quyết định chụp CTScan ngực tầm
soát kén khí phổi.
Bảng 7 : Đặc điểm X quang ngực sau điều trị
Đặc điểm Số bệnh nhân Tỉ lệ %
Còn TKMP 02 (lượng ít ở
đỉnh)
10,5
Kén khí phổi 02 10,5
Bình thường 15 79,0
Tổng cộng 19 100
Kết quả chỉ phát hiện 2 trường hợp (10,5%) có hình ảnh nghi ngờ kén khí trên
phim ngực thẳng (cả 2 trường hợp đều được xác định kén khí phổi trên CT
Scan sau đó).
Kết quả CT Scan ngực
CT Scan ngực cản quang được chụp sau khi bệnh nhân đã được điều trị và có
bằng chứng phổi nở khá trên X quang ngực thẳng. Số trường hợp phát hiện kén
khí phổi là 14 trường hợp, chiếm 73,7%.
Bảng 8 : Đặc điểm tổn thương phổi trên CT Scan
Đặc điểm Số bệnh
nhân
Tỉ lệ
%
Kén 2 phổi 5 26,3
Kén phổi bên trái 5 26,3
Kén phổi bên phải 4 21,1
Kén khí cùng bên 11 57,9
Kén khí đối bên 8 42,1
Còn tràn khí màng
phổi tự phát
2 (1 ít, 1
vừa)
10,5
Phổi bình thường 3 15,8
Biểu đồ : Tương quan giữa kén khí
và bệnh lý TKMP.
Vị trí kén khí phổi
Bảng 9: Vị trí phát hiện kén khí trên nhu mô phổi
Vị trí Số bệnh
nhân
Tỉ lệ %
Đỉnh phổi – Thùy
trên
14/14 100,0
Thùy giữa 01/14 7,2
Thùy dưới 02/14 14,3
Trong số các trường hợp phát hiện kén khí phổi trên phim CT Scan, 100%
trường hợp vị trí kén khí ở bề mặt nhu mô phổi vùng đỉnh phổi. Ngoài ra còn
phát hiện thêm kén khí ở vị trí khác: 7,2% ở thùy giữa, 14,3 ở thùy dưới và mặt
hoành của phổi.
Hình dạng và kích thước kén khí phổi

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét