Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014
160 Kiểm soát vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
5
Thị trường chứng khoán là nơi quan trọng thu hút vốn đầu tư nước ngoài được
các nước trên thế giới ngày nay đặc biệt quan tâm. Tiền vốn của khu vực Đông Nam Á
thông qua thị trường cổ phiếu chảy vào Hồng Kông. Tiền vốn các nước sản xuất dầu
Trung Đông cũng thông qua thị trường chứng khoán chảy vào Nhật Bản. Không chỉ có
các nước đang phát triển xem cổ phiếu là một biện pháp quan trọng thu hút vốn nước
ngoài. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự phát triển sản xuất quốc tế lớn và tiền vốn
quốc tế hoá, thông qua thị trường quốc tế góp vốn đã trở thành con đường quan trọng
lợi dụng vốn nước ngoài.
Ngày nay số lượng vốn tự do của nhiều nước đưa vào thị trường chứng khoán
quốc tế với nhiều hình thức khác nhau, vì vậy trên TTCK có thể dung vốn nước ngoài
với quy mô rất lớn.
Ví dụ: TTCK Mỹ chia thị trường thành hai cấp: thị trường cấp một và thị trường
cấp hai. Thị trường cấp một là nơi phát hành chứng khoán, thị trường cấp hai là nơi lưu
thông chứng khoán. Chia làm tám loại chứng khoán từ giao dịch TTCK: trái phiếu
công ty; cổ phiếu phổ thông; cổ phiếu ưu tiên; chứng khoán có thể chuyển đổi; công
trái chính phủ; chứng khoán có thế chấp; chứng khoán thị trường tiền tệ và cổ phiếu
công ty đầu tư.
Các loại trái phiếu chính phủ Liên bang Mỹ cũng không giống nhau, nó gồm ba loại:
một là Quốc khố, tức là công trái Chính phủ liên bang thời hạn một năm; hai là trái
phiếu tài chính trung hạn, tức thời hạn trên một năm; ba là công trái dài hạn, tức là
công trái chính phủ Mỹ phát hành rất lớn.
TTCK tư bản có đặc điểm rõ rệt là phần mua bán tiền vốn lâu dài, có thể cung
cấp vốn trung hạn và dài hạn. Như TTCK NewYork là một trong những thị trường tiền
vốn lớn nhất thế giới, nghiệp vụ chủ yếu là vay và cho vay tiền vốn dài hạn và trung
hạn. Ngân hàng thương nghiệp, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư và các quỹ khác là những
người cung cấp vốn dài hạn trên TTCK NewYork. Người vay vốn chủ yếu là những
công ty lớn. Họ phát hành trái phiếu công ty góp vốn, hạn ngạch chiếm trên 50% vốn
6
thị trường. Ngoài ra chính phủ liên bang cũng thông qua phát hành quốc khố trung hạn
và dài hạn để thu hút vốn.
1.1.5. Dòng vốn đầu tư gián tiếp tạo nên “chiều sâu tài chính”.
Trong tác phẩm “ The Order of Economic Liberalization Financial Control in
the Transition to a Market Economy”, Mc Kinnon đã đề cập nhiều đến thuật ngữ
“chiều sâu tài chính”. Trong đó Mc Kinnon chứng minh rằng quá trình tự do hóa tài
chính và việc áp dụng lãi suất thực dương là nguyên nhân dẫn đến chiều sâu tài chính.
Phát triển tài chính theo chiều sâu là sự gia tăng giá trị các tài sản tài chính so
với tổng sản phẩm nội địa. Các thước đo độ sâu tài chính là: M2/GDP, M3/GDP
Như vậy để phát triển tài chính theo chiều sâu, cần phải gia tăng các tài sản: tiền
gửi, tiền vay, phiếu nợ ngắn hạn, trái phiếu, cổ phiếu, bảo hiểm, tài sản hưu Mà dòng
vốn FPI chính là dòng vốn quan trọng góp phần làm cho TTCK Việt Nam phát triển,
làm tăng lượng vốn đầu tư vào TTCK, tạo tiền đề cho việc tăng tích lũy vốn đưa đến
một nền kinh tế tăng trưởng.
1.1.6. Tác động của dòng vốn FPI đến sự phát triển nền kinh tế
Kể từ khi TTCK ra đời và đi vào hoạt động đã thu hút ngày càng nhiều nhà
ĐTNN với một lượng đáng kể dòng vốn FPI, một ngoại lực cho sự phát triển kinh tế
nước nhà. FPI đã được quan tâm và có tầm quan trọng không kém dòng vốn FDI. Việc
thu hút ngày càng nhiều dòng vốn này đã mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế.
- Thứ nhất, FPI góp phần làm tăng nguồn vốn trên thị trường vốn nội địa và làm
giảm chi phí vốn thông qua việc đa dạng hóa rủi ro: FPI là nguồn vốn bổ sung quan
trọng cho nguồn vốn nội địa mà các nước đang phát triển cần để thúc đẩy sự tăng
trưởng kinh tế. Ngoài ra, FPI còn giúp các nhà ĐTNN có cơ hội chia sẽ rủi ro của mình
với các nhà đầu tư nội địa. FPI làm cho thị trường vốn nội địa có tính thanh khoản cao
hơn và kéo theo việc đa dạng hóa rủi ro trở nên dễ dàng hơn. Kết quả là nguồn vốn trở
nên dồi dào hơn và chi phí sử dụng vốn thấp hơn đối với các doanh nghiệp.
7
- Thứ hai, FPI thúc đẩy sự phát triển tài chính thông qua nhiều kênh, có thể kể
đến như sau:
. Khi thị trường có tính thanh khoản cao hơn, sâu rộng hơn thì một loạt các dự
án đầu tư khác nhau sẽ được tài trợ. Những công ty mới sẽ có cơ hội lớn hơn trong việc
thu hút được nguồn tài trợ ban đầu. Người tiết kiệm sẽ có nhiều cơ hội đầu tư hơn với
niềm tin rằng họ có thể quản lý được danh mục đầu tư hoặc có thể bán chứng khoán đi
rất nhanh khi họ cần đến nguồn tiết kiệm. Như vậy, những thị trường có tính thanh
khoản cao sẽ thu hút được nguồn vốn đầu tư dài hạn hơn.
. FPI còn thúc đẩy sự phát triển của các thị trường cổ phiếu cũng như quyền
biểu quyết của các cổ đông trong quá trình điều hành công ty. Khi các công ty cạnh
tranh với nhau về nguồn tài trợ, thị trường vốn sẽ cung ứng cho những công ty hoạt
động kinh doanh khả thi hơn. Cổ phiếu sẽ ngày càng phản ánh giá trị thực của công ty
và điều này sẽ thúc đẩy phân bổ vốn một cách hiệu quả.
. FPI làm tăng cường tính kỷ luật đối với các thị trường vốn nội địa. Vì các nhà
đầu tư sẽ tìm kiếm nhiều cơ hội đầu tư mới hay sắp xuất hiện. Khiến cho các công ty
cạnh tranh nhau về nguồn tài trợ, họ phải đối mặt với áp lực về nhau cầu của thông tin
về khối lượng cũng như chất lượng. Sức ép về tính công khai đầy đủ sẽ thúc đẩy tính
minh bạch và điều này sẽ có tác động lan tỏa tích cực tới các khu vực khác của nền
kinh tế. Các nhà ĐTNN yêu cầu một mức độ công khai hóa cao hơn, những chuẩn mực
kế toán cao hơn và mang theo những kinh nghiệm của họ trong việc thực hiện những
chuẩn mực này.
. FPI thúc đẩy cải cách thể chế và nâng cao kỷ luật đối với các chính sách của
Chính phủ.
Như vậy, FPI có thể bổ sung thêm nguồn vốn cho nền kinh tế cũng như thúc đẩy
việc củng cố và cải thiện hoạt động của các thị trường vốn nội địa. Vốn và các nguồn
lực trong nền kinh tế được phân bổ tốt hơn, tạo cơ hội đa dạng hóa danh mục đầu tư,
8
cải thiện khả năng quản lý rủi ro, thúc đẩy gia tăng tiết kiệm quốc gia, kết quả là nền
kinh tế tăng trưởng bền vững hơn.
- Thứ ba, sự thu hút dòng vốn FPI trên thị trường vốn quốc tế sẽ ít có những tác
động bất ổn đối với thị trường tài chính nội địa: Việc tiếp cận ổn định thị trường vốn
quốc tế lại phụ thuộc vào đánh giá tích cực của nhà đầu tư với tính thanh khoản của các
chứng khoán. Nếu giá cả chứng khoán bất ổn trên thị trương quốc tế, việc phát hành
mới sẽ khó có thể thực hiện được.
- Thứ tư, sự di chuyển quá mức của dòng vốn FPI sẽ khiến cho hệ thống tài
chính trong nước dễ bị tổn thương và rơi vào khủng hoảng một khi gặp phải những cú
sốc từ bên trong cũng như bên ngoài nền kinh tế.
- Thứ năm, FPI làm giảm tính độc lập của chính sách tiền tệ và tỷ giá: bởi vì
cùng với quá trình tự do hóa tài khoản vốn, NHTW chỉ có thể thực hiện được một
trong hai mục tiêu còn lại: sự độc lập của chính sách tiền tệ hay sự độc lập của chính
sách tỷ giá hối đoái. Trong điều kiện tự do di chuyển vốn, nếu NHTW muốn duy trì
chính sách tiền tệ độc lập. Việc không tuân thủ nguyên tắc này sẽ khiến cho các chính
sách kinh tế vĩ mô trở nên trái ngược nhau và đưa đến hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế.
1.2. Lợi ích và rủi ro gắn liền với dòng vốn gián tiếp
1.2.1. Lợi ích của FPI
Khác với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò trực tiếp thúc đẩy
sản xuất thì đầu tư gián tiếp lại có tác dụng kích thích sự phát triển của thị trường tài
chính, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với các nguồn vốn, nâng
cao vai trò quản lý và có tác dụng thúc đẩy lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế, từ đó
thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là ở những nước đang phát triển.
Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài mang đến nhiều lợi ích thể hiện trên các mặt
sau:
Thứ nhất, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đổ vào thị trường tài chính
thông qua việc mua bán các loại chứng khoán trên thị trường chứng khoán và làm các
9
loại chứng khoán được niêm yết có tính thanh khoản cao hơn, thị trường năng động
hơn và quy mô của thị trường qua đó cũng mở rộng hơn. Một thị trường chứng khoán
năng động cũng đồng nghĩa với một nền kinh tế lành mạnh và các doanh nghiệp khi đó
sẽ dễ dàng tiếp cận được với những nguồn vốn nhàn rỗi hơn.
Thứ hai, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài dùng để đầu tư vào các doanh
nghiệp cổ phần thông qua các quỹ đầu tư tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này tăng
cường khả năng về vốn hoạt động mà không phải ngân hàng nào cũng có thể đáp ứng
được. Trong bối cảnh của nước ta hiện nay, đa số là các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà
thị trường thì lại rộng lớn nên các doanh nghiệp này rất cần đến những số vốn thực sự
lớn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, những công ty
cổ phần trong giai đoạn đầu của sự phát triển rất cần đến nguồn vốn đầu tư từ các quỹ
đầu tư mạo hiểm để gia tăng nguồn vốn cổ phần của mình. Thu hút được càng nhiều
những luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ càng tạo điều kiện thúc đẩy sự phát
triển của các doanh nghiệp trong nước.
Thứ ba, hầu hết vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đổ vào các doanh nghiệp trong
nước. Những nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư vào công ty cổ phần không phải là
họ muốn làm chủ công ty mà họ chỉ muốn góp tiếng nói trong hội đồng quản trị, đại
hội cổ đông… để việc quản lý công ty được tốt hơn. Lợi ích lớn nhất của các vấn đề
này là các công ty này không những được tiếp cận với những nguồn vốn lớn mà còn
học hỏi được những kinh nghiệm quản lý tiên tiến trên thế giới cũng như tiếp cận được
với những công nghệ sản xuất hiện đại.
Thứ tư, để thu hút được nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thì phải xây
dựng một nền kinh tế dân chủ, coi trọng sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
phá bỏ quyền lực của những doanh nghiệp thống lĩnh thị trường, chống câu kết chính
trị - kinh doanh. Khi thực hiện được những vấn đề nêu trên thì mới tạo được sự tin
tưởng nơi những nhà đầu tư và họ sẽ bỏ vốn để đầu tư mà không phải hồi hộp, lo sợ và
tránh được những sự tháo chạy hàng loạt. Bên cạnh đó nền kinh tế trong nước sẽ mạnh
10
hơn do các quan hệ kinh tế lành mạnh, minh bạch sẽ lại là một tiền đề mới để thu hút
thêm vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
Tuy nhiên bên cạnh những vai trò tích cực của mình thì không phải không có
những tác động tiêu cực của nhà đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán.
1.2.2. Rủi ro của FPI
Bên cạnh những lợi ích to lớn từ đầu tư gián tiếp nước ngoài mang lại thì nguồn
vốn này cũng tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ rủi ro khác nhau. Cuộc khủng hoảng tài chính
trong khu vực năm 1997 xuất phát từ cuộc tháo chạy của những luồng vốn gián tiếp
trên thị trường tài chính. Niềm tin sụp đổ nên đã kéo theo hàng loạt thị trường tài chính
các nước lâm vào cảnh khốn cùng. Ngân hàng Trung ương của các nước trong khu vực
không can thiệp được một cách có hiệu quả nên càng làm cho tình hình nghiêm trọng
thêm. Đấy là một rủi ro có hệ thống và không phải lúc nào cũng có thể xảy ra.
Với tiềm lực tài chính mạnh mẽ của mình, các quỹ đầu tư tài chính trên khắp thế
giới không gặp khó khăn nào trong việc khống chế thị trường tài chính của các nước
đang phát triển. Đối với Việt Nam, các quỹ đầu tư nước ngoài được phép sở hữu đến
49% cổ phần của doanh nghiệp trong nước nên chưa thể khống chế hoàn toàn. Nhưng
với xu thế mở cửa ngày càng mạnh mẽ và để tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài
thì sớm hay muộn chúng ta cũng phải bãi bỏ giới hạn này và nếu không có những biện
pháp kịp thời ngay từ bây giờ thì có thể sẽ có rất nhiều các doanh nghiệp bị thôn tính
hoàn toàn.
Bên cạnh việc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước phát triển thì một
lượng lớn ngoại tệ đổ vào trong nước có thể dẫn đến tình trạng thừa ngoại tệ và gây sức
ép tăng giá lên đồng nội tệ. Chính vì vậy, việc Ngân hàng nhà nước phải tính toán và
có những quy định hợp lý trong việc quản lý ngoại hối là rất cần thiết. Dự trữ ngoại tệ
cũng là một vấn đề rất quan trọng trong vấn đề mở cửa thị trường tài chính. Nếu lượng
dự trữ ngoại tệ không đủ và có bất ổn trong nền kinh tế thì đó cũng chính là những
khởi đầu kích thích cho một cuộc khủng hoảng tài chính toàn diện. Để đối phó với việc
11
tăng giá của đồng nội tệ thì nhà nước phải phát hành trái phiếu nhằm ổn định thị trường
tiền tệ trong nước.
Đa số các nhà đầu tư nước ngoài là những người có kiến thức tích luỹ, bề dày
kinh nghiệm và tiềm lực kinh tế có thể tiến hành các hoạt động đầu cơ, thao túng thị
trường. Yếu tố đầu cơ dễ xảy ra khi có nhiều người cùng cấu kết với nhau để mua vào
hoặc bán ra một lượng lớn chứng khoán của một số công ty nào đó. Sự cấu kết này sẽ
tạo ra một sự khan hiếm hay thừa thải giả tạo, làm cho giá chứng khoán có thể lên hoặc
xuống một cách đột ngột.
Cơn sốt chứng khoán làm tài sản của các nhà đầu tư bỗng chốc trở thành khổng
lồ. Nhà đầu tư có trong tay một lượng giá trị tài sản kết xù nên sẵn sàng đầu tư vào các
lĩnh vực khác có độ rủi ro cao hơn nhưng với mức sinh lời hấp dẫn hơn.
Trong thời kỳ đầu , sự gia tăng giá trị tài sản trên thị trường chứng khoán đã
kích thích nhu cầu đầu tư và sự tăng trưởng, theo đó có thể gia tăng lạm phát. Khi giá
chứng khoán có xu hướng giảm, một trong những phản ứng dây chuyền của thị trường
là một sự rút vốn ồ ạt của các nhà đầu tư nước ngoài càng làm sụt giảm nghiêm trọng
làm giá cả trên thị trường chứng khoán giảm mạnh. Đối tượng bị ảnh hưởng trước tiên
là các cổ đông trong nước, theo đó các rủi ro trong kinh doanh bùng nổ thực sự.
Cùng với việc sụt giảm giá cổ phiếu, việc rút vốn đột ngột ra khỏi tài sản đầu tư
gián tiếp có thể sẽ gây ra áp lực tỷ giá hối đoái, đặc biệt khi các nhà đầu tư nước ngoài
phải thực hiện việc chuyển đổi sang ngoại tệ từ số tiền có được khi bán cổ phiếu. Tính
ổn định của hoạt động tài chính trong nước sẽ bị đe dọa nếu như hệ thống tài chính
không đảm bảo các khả năng thanh toán các khoản nợ, lượng dự trữ ngoại tệ không đủ
mạnh để chống lại các rủi ro. Như vậy, trong nhiều trường hợp, rủi ro tài chính là mầm
móng khởi đầu gây ra khủng hoảng tài chính và khủng hoảng kinh tế.
Tuy những rủi ro có thể xuất hiện bất cứ lúc nào nhưng không vì thế mà ta bỏ
qua hình thức đầu tư này. Vấn đề chính là ở chỗ chúng ta đánh giá đúng tầm quan
12
trọng của luồng vốn này để tận dụng những ưu thế của nó trong việc phát triển nền
kinh tế quốc gia.
1.3. Kiểm soát vốn
1.3.1. Khái niệm
Kiểm soát vốn là biện pháp can thiệp của chính phủ dưới nhiều hình thức khác
nhau, để tác động (hạn chế) lên dòng vốn nước ngoài chảy vào và chảy ra khỏi một
quốc gia nhằm đạt mục tiêu nhất định của chính phủ
1.3.2. Các phương pháp kiểm soát
Sự tăng vọt phi thường của các luồng tài chính toàn cầu là đặc trưng nổi bật nhất
của tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn cuối của thế kỷ XX. Sự gia tăng luồng tài chính
đã đi liền với sự gia tăng tính bất ổn của nền kinh tế. Kết quả là dẫn đến hàng loạt các
cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra ở Châu Á, Nga, Châu Mỹ la tinh. Do đó nổi lên yêu
cầu là chính phủ các nước cần thiết phải kiểm soát các dòng vốn quốc tế vào và ra khỏi
quốc gia mình…
Mục tiêu kiểm soát vốn và lý thuyết “Bộ 3 bất khả thi”
Dỡ bỏ hạn chế
về tài chính
Kiểm soát hoàn toàn tài
khoản vốn
Chính sách tiền tệ
độc lập
Ổn định tỷ giá
Thả nổi tỷ giá
hoàn toàn
Hội nhập tài
chính hoàn toàn
Cố định tỷ giá
hoàn toàn
13
Lý thuyết bộ ba bất khả thi (The Impossible Trinity (hay Inconsistent Trinity
hay Triangle of Impossibility)) là một chính sách kinh tế quốc tế. Lý thuyết phát biểu
rằng: một quốc gia không thể đồng thời thực hiện cùng một lúc 3 mục tiêu chính sách
vĩ mô:
• Ổn định tỷ giá
• Tự do hóa dòng vốn
• Chính sách tiền tệ độc lập
Không thể có đồng thời tất cả: một quốc gia chỉ có thể chọn tối đa 2 trong 3. Nó
có thể chọn một chính sách ổn định tỷ giá nhưng phải hi sinh tự do hóa dòng vốn tức
là tiếp tục kiếm soát vốn (giống như Trung Quốc ngày nay), nó có thể chọn một chính
sách tự do hóa dòng vốn nhưng vẫn tự chủ về tiền tệ, song phải để tỷ giá thả nổi (giống
như Anh hoặc Canada), hoặc nó có thể chọn kiểm soát vốn và ổn định chính sách tiền
tệ , nhưng phải thả nổi lãi suất để chống lạm phát hoặc suy thoái (giống như Achentina
hoặc hầu hết Châu Âu).
Đây là mô hình lý thuyết rất phổ biến, gọi là mô hình Mundell- Fleming được
Robert Mundell và Marcus Fleming phát triển trong những năm 1960. Và vào những
năm 1980 khi vấn đề kiểm soát vốn bị thất bại ở nhiều quốc gia cùng với mâu thuẫn
giữa việc neo giữ tỷ giá và chính sách tiền tệ độc lập ngày càng rõ ràng thì Lý thuyết
bộ ba bất khả thi đã trở thành nền tảng cho kinh tế học vĩ mô của nền kinh tế mở.
Với một chính sách ổn định tỷ giá hoàn hảo, với một tài khoản vốn mở (không
bị kiểm soát) hoàn hảo, nhưng một quốc gia vẫn hoàn toàn không thể tự chủ chính sách
tiền tệ. Những ví dụ lặp lại trên thế giới cho thấy ở những nơi và thời điểm mà tài
khoản vốn bắt đầu được tự do, thì cùng lúc xuất hiện một chính sách tỷ giá cứng nhắc
hơn và sự tự chủ về chính sách tiền tệ cũng giảm đi.
Song song với sự phát triển thương mại và dịch vụ trong thế giới hiện đại, kiểm
soát vốn rất dễ bị lãng quên. Thêm nữa, vấn đề kiểm soát vốn còn thể hiện những thay
đổi của quốc gia không đúng thực tế. Do vậy rất khó để một quốc gia có được một hệ
14
thống kiểm soát vốn thật sự hiệu quả. Lý thuyết bộ ba bất khả thi khẳng định rằng:
trong điều kiện ngày nay, một quốc gia phải lựa chọn giữa việc giảm thiểu sự thay đổi
tỷ giá hoặc điều hành một chính sách tiền tệ độc lập ổn định. Nó không thể có đồng
thời cả hai.
Các phương thức kiểm soát vốn
1.3.2.1. Kiểm soát vốn trực tiếp
Là việc hạn chế những giao dịch vốn, những khoản thanh toán liên quan đến
giao dịch vốn và việc chuyển giao ngân quỹ bằng những ngăn cấm triệt để, những hạn
chế mang tính chất số lượng. Thông thường, loại kiểm soát này áp đặt những nghĩa vụ
hành chính lên hệ thống ngân hàng để kiểm tra dòng vốn.
1.3.2.2. Kiểm soát vốn gián tiếp
Còn gọi là kiểm soát vốn dựa trên cơ sở thị trường, là việc hạn chế những biến
động của dòng vốn và những giao dịch khác làm cho chúng phải tốn kém nhiều chi phí
hơn mới thực hiện được, từ đó hạn chế ( không phải ngăn cấm) các giao dịch này.
1.3.3. Tác động và hậu quả của kiểm soát vốn
Có nhiều quan điểm lầm tưởng rằng nếu như áp dụng các biện pháp kiểm soát
vốn gián tiếp thì sẽ không phải trả giá.Trên thực tế, đã gọi là kiểm soát vốn thì cho dù
là áp dụng các biện pháp kiểm soát vốn như thế nào cũng phải trả một giá nhất định.
Cái giá chung nhất chính là sẽ làm chậm lại các cơ hội thu hút vốn đầu tư khi mà các
quốc gia ngày càng cạnh tranh quyết liệt để thu hút dòng vốn toàn cầu. Đi vào từng
lĩnh vực cụ thể thì kiểm soát vốn sẽ có những tác động nhất định.
- Thứ nhất, kiểm soát vốn nếu không khéo sẽ mâu thuẩn với pháp lệnh ngoại hối
mới vừa ban hành vào tháng 12 năm 2005, mà tinh thần chung là tự do hoá các giao
dịch ngoại hối.
- Thứ hai, kiểm soát vốn làm chi phí giao dịch vốn (tính trên tổng quy mô dòng
vốn) tăng cao và sẽ làm cho dòng vốn chuyển hướng sang các quốc gia khác.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét