Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Phân tích tình hình tài chính và giải pháp nhằm nâng cao khả năng tài chính tại trung tâm du lịch thanh niên Việt Nam

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
3. Chức năng của tài chính doanh nghiệp.
Nói đến chức năng là nói đến khả năng khách quan phát huy tác dụng xã
hội của nó hay là sự cụ thể hoá bản chất của tài chính doanh nghiệp. Tài chính
doanh nghiệp có những chức năng cơ bản sau:
3.1. Chức năng chu chuyển vốn tiền tệ.
Để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luôn
cần phải có một lợng vốn tiền tệ đủ lớn để hoạt động và có quyền sử dụng nguồn
vốn đó một cách chủ động. Quá trình hoạt động cua doanh nghiệp luôn nảy sinh
các nhu cầu về vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thờng xuyên
của doanh nghiệp cũng nh cho đầu t phát triển. Do vậy chức năng này sẽ giúp cho
doanh nghiệp xác định đợc nhu cầu vốn cần thiết cho sản xuất kinh doanh trong
từng thời kỳ. Mặt khác, nó còn giúp cho các nhà quản lý hay các chủ đầu t nắm
đợc tình hình tài chính để tổ chức nguồn vốn nhằm đầu t đúng hớng và kịp thời
nhu cầu vốn khi cần thiết.
Với cơ chế "mở" hiện nay, nguồn tài chính hoạt động không chỉ trong giới
hạn ở nguồn cấp phát của ngân sách, nguồn vốn tự có của doanh nghiệp hay
nguồn vốn tín dụng ngân hàng mà còn có thể đợc hình thành từ thị trờng vốn hay
huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân và các khoản đầu t nớc ngoài. Việc
hình thành thị trờng tài chính song song với thị trờn hàng hoá, tạo ra cơ chế "bơm
- hút" vốn một cách hợp lý và đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn trong các doanh
nghiệp, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh cua doanh nghiệp phát triển.
Điều đó cho thấy chức năng chu chuyển vốn tiền tệ là một chức năng quan
trọng của tài chính doanh nghiệp vì nó tạo ra động lực thúc đẩy, quyết định sự
hoạt động của doanh nghiệp. Nó liên quan đến kết quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp hay nói cách khác nó tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp.
3.2. Chức năng phân phối.
Phân phối là một chức năng quan trọng của tài chính doanh nghiệp, dựa
trên cơ sở sản xuất kinh doanh, khi chu kỳ kinh doanh kết thúc, sản phẩm hàng
hoá đợc tiêu thụ trên thị trờng, doanh nghiệp có thu nhập thu về từ bán hàng hoặc
dịch vụ. Nói cách khác, chức năng phân phối là cái vốn có nằm sẵn trong phạm
trù tài chính và biểu hiện bản chất của tài chính trong đời sống kinh tế xã hội khi
phân phối của cải vật chất dới hình thức giá trị. Cũng từ chức năng phân phối mà
các nguồn tài lực là đại diện cho của cải của xã hội đợc đa vào những mục đích sử
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
dụng khác nhau đảm bảo những nhu cầu khác nhau và những lợi ích khác nhau
của đời sống xã hội. Chức năng phân phối của doanh nghiệp chủ yếu là phân phối
thu nhập bởi vì việc phân phối có tác động tới toàn bộ quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó thúc đẩy doanh nghiệp phát triển và mở
rộng sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển
trong nền kinh tế thị trờng có thể tiếp tục tái sản xuất mở rộng. Hình thức phân
phối thể hiện theo quy trình sau khi thu tiền từ hoạt động bán hàng hay dịch vụ,
doanh nghiệp phải phân phối theo cơ chế:
- Một phần dùng để bù đắp vốn đã bỏ ra mua hàng và cũng để nhằm mục
đích bảo toàn vốn lu động.
- Bù đắp một phần chi phí thuộc các yếu tố vật chất đã sử dụng trong quá
trình sản xuất kinh doanh nh chi phí bù đắp hao mòn tài sản cố định, chi phí vật
liệu, nhiên liệu, chi phí lao động trong đó bao gồm cả chi phí tiền lơng, chi phí
vận tải, chi phí bốc dỡ hàng hoá, mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong kỳ kinh
doanh.
- Thanh toán các khoản thuế và các khoản phải nộp nhà nớc khác nh: thuế
VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế XNK, và các khoản lệ phí và phụ thu khác
- Số còn lại sau khi bù đắp đợc các khoản chi phí gọi là lợi nhuận trớc thuế
của doanh nghiệp. Lợi nhuận này sau khi đã trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp và
các khoản chi phí không hợp lý nh nộp tiền phạt, hao hụt vợt quá mức quy định,
tiền lãi vay quá hạn phần còn lại sẽ đợc doanh nghiệp phân phối vào các quỹ
nh: quỹ đầu t phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thởng phúc lợi
3.3. Chức năng giám đốc tài chính.
Đây là chức năng mang tính chất khách quan đợc sử dụng trong kiểm tra,
kiểm soát tài chính doanh nghiệp, chức năng giám đốc tài chính phản ánh tính
chất khách quan của hoạt động tài chính và thông qua đó có thể phản ánh đợc
trình độ sử dụng vốn trong hoạt động kinh doanh. Quá trình tạo lập và sử dụng
các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp hớng vào việc thực hiện các yêu cầu của các
quy luật kinh tế của nền kinh tế trị trờng. Trong đó đặc điểm cơ bản nhất của
giám đốc tài chính là giám đốc bằng tiền các hoạt động kinh doanh một cách th-
ờng xuyên, liên tục và có hiệu quả nhất.
Giám đốc tài chính cho thấy đợc khả năng sử dụng vốn có hiệu quả hay
không và việc phân phối chúng nh thế nào đối với mỗi đồng vốn mà doanh
nghiệp đã bỏ ra. Đồng thời thông qua một số chỉ tiêu về sử dụng vốn, một số chỉ
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tiêu về chi phí hay lợi nhuận mà có thể phát hiện ra các hiện tợng sử dụng vốn
bất hợp lý, sử dụng chi phí kinh doanh kém hiệu quả để t vấn cho lãnh đạo hoặc
chủ doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn về tài chính đảm bảo cho hoạt
động của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Và cũng có thể nắm một cách chính
xác, toàn diện tình hình tài chính doanh nghiệp để lập kế hoạch tài chính doanh
nghiệp và bám sát mục tiêu kinh doanh. Cũng thông qua chức năng này mà quá
trình kinh doanh đợc chủ động, không ngừng đợc mở rộng và phát triển theo định
hớng, đảm bảo việc sử dụng vốn có hiệu quả, thực hiện yêu cầu của chế độ hạch
toán kinh tế, đảm bảo đời sống của ngời lao động trong doanh nghiệp, tránh tham
ô lãng phí và những tổn thất không đáng có do hoạt động tài chính gây nên.
4. Vai trò của tài chính doanh nghiệp đối với quá trình HĐKD
Trong nền kinh tế thị trờng, tài chính doanh nghiệp có một vai trò hết sức
quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó có tác dụng thúc
đẩy hoặc kìm hãm quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh
doanh ngày nay, tài chính giữ những vai trò chủ yếu sau:
Đảm bảo huy động đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thờng xuyên nảy sinh
các nhu cầu về vốn ngắn hạn và dài hạn cho các hoạt động kinh doanh thờng
xuyên của doanh nghiệp cũng nh cho đầu t phát triển.
Vai trò tài chính doanh nghiệp trớc hết đợc thể hiện ở việc xác định đúng
đắn các nhu cầu về vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời
kỳ và sau đó lựa chọn hình thức huy động vốn phù hợp (huy động từ bên trong
hay bên ngoài doanh nghiệp). Chính vì thế vai trò của tài chính doanh nghiệp
ngày càng trở nên quan trọng hơn trong việc chủ động lựa chọn các hình thức và
phơng pháp huy động vốn đảm bảo cho quá trình huy động nhịp nhàng, liên tục
với chi phí thấp nhất. Bên cạnh đó, tài chính doanh nghiệp có vai trò trong việc tổ
chức, sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả. Việc tổ chức sử dụng vốn của doanh
nghiệp có tác động rất lớn đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tài chính
doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá lựa chọn dự án đầu t
trên cơ sở phân tích một số chỉ tiêu kinh tế nh khả năng sinh lời, mức độ rủi ro,
để lựa chọn ra một dự án đầu t tối u. Huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa
rất lớn để doanh nghiệp có thể nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh. Mặt khác,
huy động tối đa nguồn vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh để có thể giảm bớt
và tránh đợc những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng thời giảm bớt đợc nhu
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
cầu vay vốn, từ đó giảm đợc khoản chi phí trả lãi tiền vay. Việc hình thành và sử
dụng tốt các quỹ doanh nghiệp cùng với việc sử dụng các hình thức thởng phạt
vật chất nghiêm minh và hợp lý sẽ là động lực thúc đẩy cán bộ công nhân viên
quan tâm tới công việc, gắn bó với doanh nghiệp từ đó nâng cao sản xuất lao
động góp phần cải tiến và hợp lý hóa trong sản xuất kinh doanh nhằm sử dụng
vốn đạt hiệu quả cao nhất.
Giám sát, kiểm tra chặt chẽ các mặt của hoạt động sản xuất kinh doanh
cũng là một vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp trong việc thực hiện hàng
loạt chỉ tiêu kế hoạch tài chính đã đợc xây dựng. Thờng xuyên giám sát, kiểm tra
và đánh giá một cách khái quát các mặt hoạt động của doanh nghiệp đồng thời
phát hiện ra những tồn tại vớng mắc trong kinh doanh để từ đó có những biện
pháp khắc phục góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và điều
chỉnh các hoạt động sao cho phù hợp với thực tế kinh doanh.
II. Sự cần thiết phải phân tích tình hình tài chính doanh
nghiệp.
1. Khái niệm và mục đích phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
1.1. Khái niệm.
Mọi sự vật và hiện tợng đều tồn tại một cách khách quan, muốn nắm bắt,
nhận thức và cải tạo đợc chúng để đa vào sử dụng phục vụ cho lợi ích của con ng-
ời thì cần phải hiểu biết về bản chất sự vật và hiện tợng cũng nh quy luật vận
động của nó. Vì vậy, để hiểu biết đợc chúng ta cần phải sử dụng nhiều phơng
pháp nghiên cứu khác nhau trong đó có phơng pháp phân tích.
Vậy phân tích có thể hiểu là sự bóc tách, chia nhỏ sự vật hiện tợng trong
mối quan hệ trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành của sự vật,
hiện tợng; từ đó cho ta nhận thức đợc về hình dáng, kích thớc, tính chất của
chúng trong đối tợng nghiên cứu và thấy đợc mối liên hệ, tác động qua lại giữa
chúng. Đồng thời qua phân tích quy luật của sự vật hiện tợng. Đó là phân tích
trong lĩnh vực tự nhiên, còn trong lĩnh vực kinh tế xã hội thì các hiện tợng cần
phân tích chỉ tồn tại bằng những khái niệm trừu tợng. C.Mác đã chỉ ra rằng:
"Khi phân tích các hình thái kinh tế xã hội thì không thể sử dụng hoặc
kính hiển vi hoặc những phản ứng hoá học. Lực lợng trừu tợng phải thay thế cái
này hoặc cái kia".
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Phân tích kinh tế là một trong những khái niệm chung, tuỳ theo phạm vi
của đối tợng nghiên cứu mà ta chia ra thành phân tích kinh tế vĩ mô hay phân tích
kinh tế vi mô.
- Phân tích kinh tế vĩ mô có phạm vi nghiên cứu rộng trong nền kinh tế
quốc dân hay một vùng lãnh thổ.
- Phân tích kinh tế vi mô hay còn gọi là phân tích hoạt động kinh tế có
phạm vi là các hiện tợng và quá trình kinh tế phát sinh trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của một doanh nghiệp hay một tổ chức kinh tế cụ thể.
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp là các mối quan hệ tiền tệ
gắn liền với việc hình thành nên vốn, phân phối, quản lý và sử dụng vốn trong quá
trình kinh doanh và đợc biểu hiện bằng việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền
tệ.
Phân tích tình hình tài chính là quá trình xem xét kiểm tra, đối chiếu và so
sánh số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ. Thông qua phân tích tình hình tài
chính mà ngời sử dụng thông tin có thể đánh giá đợc tiềm năng, hiệu quả kinh
doanh hay những rủi ro có thể xảy ra trong tơng lai hoặc triển vọng phát triển có
thể đạt đợc của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trờng, phân tích tài chính doanh nghiệp đã và ngày
càng trở thành một công cụ quan trọng trong hệ thống các công cụ quản lý kinh
tế xã hội. Hơn thế nó đã phát triển thành một môn khoa học kinh tế độc lập có đối
tợng nghiên cứu riêng.
Đối tợng nghiên cứu của phân tích tài chính doanh nghiệp là việc đi phân
tích những kết quả kinh doanh gắn liền với việc huy động, sử dụng và quản lý
vốn, đợc thể hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế và các nhân tố tác động tới nó.
Nói tóm lại, phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là tổng thể các ph-
ơng pháp đợc sử dụng để nghiên cứu các mối quan hệ nói trên nhằm nhận thức và
đánh giá một cách đúng đắn trong quản lý kinh tế nói chung và trong đó có quản
lý tài chính.
1.2. Mục đích của phân tích tài chính.
Với nền kinh tế "mở" có sự điều tiết vĩ mô của nhà nớc, các thành phần
kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế đều có quyền bình đẳng nh nhau,
đợc tự do cạnh tranh với nhau. Vì thế, những thông tin về tài chính không chỉ đợc
những đối tợng có vai trò quản lý trong doanh nghiệp quan tâm nh: bán giám đốc
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
(hội đồng quản trị) mà còn là những thông tin hữu ích cho các chủ đầu t, nhà cho
vay, các cổ đông, các chủ nợ, các nhà quản lý liên quan khác, các nhà bảo hiểm,
đối thủ cạnh tranh Mỗi nhóm đối tợng này có những nhu cầu về thông tin khác
nhau và do vậy mỗi nhóm có xu hớng sử dụng thông tin khác nhau, do đó mỗi
nhóm có xu hớng tập trung vào những khía cạnh riêng trong "bức tranh" toàn
cảnh tài chính doanh nghiệp. Vậy, phân tích tình hình tài chính nhằm các mục
đích sau:
- Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ các thông tin hữu ích
cho các nhà đầu t, các tín chủ và ngời sử dụng thông tin tài chính khác để họ có
những quyết định đúng đắn khi ra quyết định đầu t hoặc cho vay.
- Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp cho các thông tin cho các chủ
doanh nghiệp, các nhà cho vay trong việc đánh giá tính ổn định và khả năng của
các dòng tiền ra - vào, tình hình sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh, tình hình và
khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
- Việc phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đợc các thông tin về
nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình hoạt động, các tình
huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp.
Nh vậy, có thể nói mục đích tối cao và quan trọng nhất của phân tích tài
chính doanh nghiệp là giúp ngời ra quyết định lựa chọn phơng án kinh doanh tối -
u và đánh chính xác thực trạng, tiềm năng của doanh nghiệp. Hay nói cách khác,
đây cũng chính là quá trình kiểm tra, xem xét, đối chiếu, đánh giá thực trạng và
so sánh số liệu về tài chính hiện tại với quá khứ nhằm xác định đúng tiềm năng và
hiệu quả kinh doanh cũng nh những triển vọng trong tơng lai cua doanh nghiệp
hay những hiện tợng rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra cho các doanh nghiệp có những
biện pháp tối u, đạt hiệu qủa trong kinh doanh.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
2. ý nghĩa và nhiệm vụ phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
2.1. ý nghĩa.
Phân tích tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng đối với chủ
doanh nghiệp, các nhà đầu t, các đối thủ cạnh tranh trong việc đánh giá các
thông tin về khả năng của doanh nghiệp ở hiện tại và tơng lai để có những quyết
định đúng đắn trong lựa chọn phơng án kinh doanh hoặc phơng án đầu t một cách
tốt nhất. Do vậy, ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp đợc thể hiện:
- Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp mối quan
tâm lớn nhất của họ là tìm kiếm khả năng trả nợ cùng với nhiều mối quan tâm
khác nh tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lợng sản phẩm, cung cấp các sản
phẩm hàng hoá dịch vụ với chi phí thấp nhất Tuy nhiên một doanh nghiệp chỉ
có thể thực hiện đợc các mục tiêu trên khi các hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp có lãi, đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ và có tích luỹ từ lợi
nhuận của mình. Còn nếu là một doanh nghiệp luôn làm ăn thua lỗ thì các nguồn
lực sẽ bị cạn kiệt dần cùng với không có khả năng thanh toán nợ đến hạn điều đó
sẽ dẫn đến việc doanh nghiệp buộc phải ngừng hoạt động và đóng cửa. Vì vậy,
các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị rất quan tâm đến tình hình tài chính của
doanh nghiệp để có thể hiểu rõ và đánh giá chính xác khả năng tài chính để có
những quyết định đúng đắn cho hoạt động của mình.
- Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng thì mối quan tâm
hàng đầu của họ là tìm kiếm khả năng trả nợ của khách hàng. Do vậy họ đặc biệt
quan tâm với số lợng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh;
từ đó đem so sánh với số nợ ngắn hạn để biết đợc khả năng thanh toán tức thời
của doanh nghiệp. Một mặt họ còn quan tâm đến vốn chủ sở hữu của doanh
nghiệp bởi đây là khoản mang tính chất bảo hiểm cho họ trong trờng hợp doanh
nghiệp gặp rủi ro. Họ sẽ sẵn sàng không cho vay khi thấy các thông tin của ngời
đi vay không đảm bảo chắc chắn rằng khi khoản vay đó đến hạn mà doanh
nghiệp không có khả năng để thanh toán. Nói cách khác, là doanh nghiệp không
đủ vật t để đảm bảo thì các nhà đầu t hay các nhà cung cấp tín dụng sẽ không ra
quyết định đầu t hoặc cho vay.
- Đối với các nhà cung cấp vật t hàng hoá, dịch vụ trớc khi quyết định họ
cần phải xem xét về khả năng thanh toán của khách hàng, đặc biệt là trờng hợp
mua chịu hàng hoá. Nhóm ngời này cũng giống nh chủ ngân hàng, họ muốn biết
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
khả năng thanh toán của khách hàng ở hiện và tơng lai ra sao, liệu có đủ cơ sở để
tin cậy khi giao hàng hay không?
- Đối với các nhà đầu t thì mối quan tâm của họ chủ yếu hớng vào việc
phán đoán các yếu tố rủi ro có thể xảy ra, thời gian hoàn vốn và khả năng sinh
lời, khả năng thanh toán của mỗi đồng vốn đầu t. Do vậy họ cần có những thông
tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và các tiềm
năng phát triển của doanh nghiệp. Đồng thời để đảm bảo cho sự an toàn của đồng
vốn đầu t, họ cũng rất quan tâm đến việc điều hành hoạt động và tính hiệu quả
của công tác quản lý. Những điều đó nhằm đảm bảo sự an toàn và tính hiệu quả
cho các nhà đầu t.
- Bên cạnh chủ doanh nghiệp, các nhà đầu t, còn có nhiều nhóm ngời
khác cũng quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp nh cơ quan thuế, các tổ
chức tài chính, thống kê, những ngời lao động những ngời này cũng cần có
những thông tin giống nh các ngân hàng, các nhà đầu t vì nó liên quan đến
quyền lợi và trách nhiệm của họ ở hiện tại và trong tơng lai nh:
- Đối với cơ quan quản lý nhà nớc, qua việc phân tích tình hình tài chính
doanh nghiệp, sẽ đánh giá đợc năng lực lãnh đạo của ban giám đốc, từ đó có thể
ra những quyết định nh bổ sung vốn cho các doanh nghiệp
- Đối với những Công ty có phát hành chứng khoán thì những cổ đông cần
thông tin tài chính để xem xét hiệu quả đầu t vốn vào đó liệu có tốt hay không?
Đối với các nhà phân tích tài chính thì họ sẽ quan tâm hơn đến việc đánh giá các
rủi ro có thể xảy ra, thông qua phân tích các chi tiêu về khả năng thanh toán, khả
năng cân đối về vốn, khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Đồng thời cũng qua
phân tích có thể đa ra dự đoán về kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
trong tơng lai.
Nói tóm lại, phân tích tài chính không chỉ quan trọng đối với doanh nghiệp
mà nó còn rất có ý nghĩa đối với các đối tợng khác có liên quan đến tình hình tài
chính của doanh nghiệp. Với cơ chế cạnh tranh hiện nay thì việc phân tích tình tài
chính của mỗi doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn.
2.2. Nhiệm vụ phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp có những nhiệm vụ sau:
- Đánh giá chính xác toàn diện và khách quan tình hình tài chính của
doanh nghiệp trên các mặt huy động các nguồn vốn và phân phối và sử dụng vốn
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Đánh giá tình hình công nợ phải trả, phải thu, tình hình và khả năng
thanh toán các khoản nợ, tình hình bảo toàn và tăng trởng vốn kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung và hiệu quả sử
dụng của từng bộ phân vốn nói riêng.
III. Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
(TCDN).
1. Phân tích khái quát tình hình biến động tài sản và nguồn vốn.
Qua phân tích khái quát tình hình biến động tài sản và nguồn vốn của
doanh nghiệp có thể đánh giá đợc tình hình huy động vốn và các nguồn vốn hay
có thể nhận thức đợc việc phân phối và sử dụng hợp lý các nguồn vốn của doanh
nghiệp trong kinh doanh. Đồng thời cũng thấy đợc khả năng đáp ứng về vốn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân tích tình hình biến động tài sản và nguồn vốn (TCDN) đợc dựa trên
số liệu đã đợc tổng hợp trên bảng cân đối kế toán và một số chỉ tiêu phản ánh kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nh: doanh thu bán hàng, lợi
nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Để có thể phân tích đợc tình hình TCDN, phơng pháp thờng đợc sử dụng là
phơng pháp so sánh. Với phơng pháp này ngời sử dụng có thể tính các chỉ tiêu, tỉ
lệ tăng giảm, số chênh lệch tăng giảm để đánh giá khái quát tình hình biến
động và các nhân tố ảnh hởng TCDN ở các thời kỳ.
1.1. Phân tích khái quát tình hình biến động tài sản của doanh nghiệp.
Phân tích tình hình tài sản trong doanh nghiệp nhằm mục đích thấy đợc sự
biến động tăng giảm của tài sản, cơ cấu phân bổ tài sản và sự tác động ảnh hởng
đến tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó thấy đợc
tính tồn tại trong công tác quản lý và sử dụng tài sản doanh nghiệp để có những
biện pháp khắc phục.
1.2. Phân tích khái quát tình hình biến động nguồn vốn của doanh
nghiệp.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Khi xem xét nguồn vốn của doanh nghiệp, ngời xem có thể thấy ngay đợc
thực trạng về tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời cũng qua việc xem xét này
ngời ta thấy đợc tình hình huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp trong kỳ
nh vốn của doanh nghiệp, vốn vay ngân hàng, vốn vay của các đối tợng khác
Nếu nh doanh nghiệp huy động tốt nguồn tự có trong kinh doanh sẽ giúp cho
công ty nâng cao đợc khả năng tự chủ về tài chính. Hay nhìn vào đó mà ngời sử
dụng thấy đợc trách nhiệm phải thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp với
ngời lao động, với nhà cung ứng hay với ngân sách.
2. Phân tích tình hình quản lý và sử dụng tài sản.
Phân tích tình hình quản lý và sử dụng tài sản nhằm mục đích đánh giá sự
biến động của các bộ phận cấu thành tài sản của doanh nghiệp. Từ đó thấy đợc
trình độ sử dụng vốn, việc phân bổ giữa các loại tài sản trong quá trình hoạt động
kinh doanh có hiệu quả hay không, đồng thời đề ra các biện pháp nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn. Vậy để nhận rõ tình hình quản lý và sử dụng tài sản chúng ta
nên đi sâu phân tích vào từng bộ phận cấu thành nên tài sản.
2.1. Phân tích chung về tình hình quản lý và sử dụng tài sản lu động
(TSLĐ).
Tài sản lu động (TSLĐ) là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp, có thời gian hoạt động trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh.
TSLĐ của doanh nghiệp có thể tồn tại dới hình thái tiền, hiện vật và các khoản nợ
phải thu ngắn hạn; bao gồm vốn bằng tiền, các khoản nợ phải thu, hàng tồn kho
và các khoản ứng trớc.
2.1.1. Phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn bằng tiền.
Phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn bằng tiền của doanh nghiệp
nhằm mục đích đánh giá tình hình quản lý và sử dụng, sự biến động tăng giảm,
nguyên nhân biến động tăng giảm của tiền trong kỳ kinh doanh hay khả năng đáp
ứng nhu cầu phục vụ cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong các kỳ
kinh doanh tới.
2.1.2. Phân tích về các khoản phải thu.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét