Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 1996). Chúng ta đã
đạt được những thành quả quan trọng. Đại hội VIII nhận định: Nhiệm vụ đề
ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho CNH,
HĐH đã cơ bản hoàn thành, cho phép chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH. Nội dung cơ bản của CNH, HĐH nền kinh tế Việt Nam
trong những năm còn lại của thế kỷ XX là: "Phải đặc biệt coi trọng công
nghiệp hóa nông nghiệp và vùng nông thôn, ra sức phát triển nông, lâm,
ngư nghiệp, các ngành công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, công
nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, các ngành du lịch dịch vụ. Khôi
phục, phát triển, từng bước hiện đại hóa các ngành nghề tiểu thủ công
truyền thống đi đôi với mở mang ngành nghề mới" [3, tr. 22].
Đại hội IX tiếp tục khẳng định đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp
và nông thôn, với nội dung. "Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm
nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học
và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, đẩy mạnh thủy lợi hóa, cơ giới
hóa, điện khí hóa, quy hoạch sử dụng đất hợp lý, đổi mới cơ cấu cây trồng,
vật nuôi, tăng giá trị thu được trên đơn vị diện tích, giải quyết tốt vấn đề
tiêu thụ nông sản hàng hóa. Đầu tư nhiều hơn cho phát triển kết cấu hạ tầng
kinh tế và xã hội ở nông thôn. Phát triển công nghiệp, dịch vụ, các ngành
nghề đa dạng, chú trọng công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp,
các làng nghề, chuyển một bộ phận quan trọng lao động nông nghiệp
sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm mới, nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống nông dân và dân cư ở nông
thôn" [6, tr. 92 - 93]. Trong điều kiện hiện nay, việc đẩy mạnh CNH, HĐH
nông nghiệp và kinh tế nông thôn bao gồm một số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, thực hiện từng bước quá trình chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp và kinh tế nông thôn.
Là một bộ phận hữu cơ của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, ở nông
thôn cũng đang diễn ra quá trình hình thành cơ cấu kinh tế mới; nông -
công nghiệp và dịch vụ, bao gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp. Công nghiệp
5
chế biến nói riêng và công nghiệp nông thôn nói chung, thương nghiệp, du
lịch và các dịch vụ khác.
Mục tiêu của việc chuyển dịch đó là nhằm khai thác tốt nguồn tài
nguyên về đất đai, rừng, biển, nguồn lao động dồi dào, ưu thế địa lý và sinh
thái, nhằm tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng hiệu quả sản xuất, kinh
doanh, từng bước đa dạng hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn, cải thiện
đời sống nhân dân, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, tạo
nguồn tích lũy và thị trường rộng lớn cho công nghiệp hóa.
Đến đại hội IX, Đảng ta đã khẳng định: "Đẩy nhanh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo hướng hình thành nền
nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh
thái của từng vùng, chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu lao động, tạo
việc làm thu hút nhiều lao động ở nông thôn" [6, tr. 168].
Để thoát khỏi thế độc canh của nền nông nghiệp truyền thống, từng
bước tiến tới một nền nông nghiệp hiện đại, cơ cấu nông nghiệp phải
hướng vào tăng nhanh tỷ suất hàng hóa phù hợp với nhu cầu thị trường,
nâng cao năng suất và hiệu quả trên mỗi đơn vị diện tích và mỗi lao động.
Theo hướng đó, phải đẩy mạnh thâm canh để tăng năng suất, sản lượng
lương thực và dành được diện tích phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả
có giá trị cao. Đưa chăn nuôi lên thành một ngành chính. Đẩymạnh phát
triển và khai thác có hiệu quả các nguồn lực rừng và biển. Chú trọng phát
triển các vùng có khối lượng nông sản hàng hóa lớn, chuyên canh kết hợp
với đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp, đa dạng hóa ngành nghề ở nông
thôn, phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội, hệ sinh thái và lợi thế so sánh
của từng vùng, đi đôi với mở rộng giao lưu trong nước và ngoài nước, có
chương trình, giải pháp thiết thực để hỗ trợ những vùng nghèo, vùng khó
khăn vươn lên nhanh.
Cùng với sự chuyển dịch nội bộ nông nghiệp như trên, phải có
chính sách và biện pháp xúc tiến quá trình công nghiệp hóa nông thôn,
nhằm triệt để giải phóng sức sản xuất, tạo thêm việc làm, thúc đẩy phân
6
công lại lao động theo hướng ai giỏi việc gì làm việc ấy. Mấy năm qua, giá
trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân hàng năm 5,7%, so với
mục tiêu đề ra 4,5 - 5% trong đó nông nghiệp tăng 5,6%, lâm nghiệp 0,4%,
ngư nghiệp 8,4% [6, tr. 224].
Cơ cấu mùa vụ đã chuyển dịch theo hướng tăng diện tích lúa đông
xuân và lúa hè thu có năng suất cao, ổn định. Các loại giống lúa mới đã
được sử dụng trên 87% diện tích gieo trồng. Sản lượng lương thực có hạt
tăng bình quân hàng năm trên 1,6 triệu tấn, lương thực bình quân đầu người
đã tăng từ 360kg năm 1995 lên trên 444kg năm 2000.
Nhiều vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung gắn với công
nghiệp chế biến bước đầu được hình thành, sản phẩm nông nghiệp đa dạng
hơn. So với năm 1995, diện tích một số cây công nghiệp tăng khá: cà phê
gấp hơn 2,7 lần, cao su tăng 46%, nửa tăng khoảng 35%, bông tăng 8%
Một số giống cây công nghiệp có năng suất cao đã được đưa vào sản xuất
đại trà. Giá trị sản xuất nông nghiệp trên một đơn vị đất nông nghiệp tăng
từ 13,5 triệu đồng/ha, năm 1995 lên 17,5 triệu đồng/ha năm 2000 [6, tr. 224].
Song, năng suất trên một lao động nông nghiệp nước ta hiện còn
thấp. Vì vậy, phải chuyển dịch cơ cấu để chuyển dần lao động trong nông
nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ nói chung, trước hết là ngay
tại chỗ. Mộtmặt phát triển công nghiệp nông thôn, đặc biệt là công nghiệp
chế biến nông, lâm, thủy sản ở cả nông thôn và thành phố. Mặt khác phải
phát triển công nghiệp nông thôn một cách toàn diện, từ công nghiệp hàng
tiêu dùng, đến công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp cơ khí chế tạo
và sửa chữa với quy mô nhỏ và vừa là chủ yếu. Phải có chính sách mở
rộng thị trường, khuyến khích và khôi phục các làng nghề truyền thống.
Đồng thời mở mang nhiều làng nghề ở nông thôn. Khuyến khích các hộ
nông dân và các tổ chức hợp tác phát triển công nghiệp, đi đôi với khuyến
khích các doanh nghiệp về nông thôn lập nghiệp, góp phần tích cực cùng
nông dân phát triển mạnh mẽ công nghiệp nông thôn.
7
Tóm lại chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, công nghiệp hóa
nông nghiệp và nông thôn là con đường cơ bản để tiến hành phân công lại
lao động, xã hội hóa nền sản xuất, phát triển kinh tế hàng hóa, tạo ra nhiều
việc làm, sản xuất ra nhiều của cải, nâng cao thu nhập, tác động tích cực
đến phát triển công nghiệp và dịch vụ của cả nước.
Thứ hai, phát triển mạnh nền nông nghiệp hàng hóa hướng vào
xuất khẩu.
Nông nghiệp nông thôn vừa phục vụ nhu cầu tại chỗ, nhu cầu trong
nước, vừa tham gia thị trường xuất khẩu. Theo hướng đó, phải phát triển
mạnh nền nông nghiệp hàng hóa hướng vào xuất khẩu, phải phấn đấu đáp
ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm tiêu dùng, từ thị trường địa
phương vươn ra thị trường cả nước. Đối với xuất khẩu, cần nhanh chóng áp
dụng công nghệ chế biến hiện đại, tăng hàm lượng kỹ thuật và giá trị sản
phẩm, nâng cao sức cạnh tranh, phấn đấu thâm nhập, từng bước tạo chỗ
đứng vững chắc trên thị trường thế giới và khu vực, thu hút nước ngoài đầu
tư phát triển công nghiệp và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nước ta.
Với tầm quan trọng đó tại Đại hội IX Đảng ta đã chỉ rõ: "Phát triển mạnh
công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn hình thành các khu vực tập trung công
nghiệp, các điểm công nghiệp nông thôn, các làng nghề gắn với thị trường
trong nước và xuất khẩu"[6, tr. 172].
Hiện nay, công nghiệp hóa nông nghiệp đang là nhu cầu cấp bách
để nâng cao giá trị hàng hóa nông sản, tăng năng suất lao động, phân công
lại lao động xã hội nông thôn nước ta. Chúng ta đang phải xuất khẩu hầu
hết dưới dạng thô, với giá rẻ, lại phải nhập rất nhiều vật tư kỹ thuật, hàng
hóa công nghiệp, vừa mất việc làm vừa giảm thu nhập. Trong khi đó, nhiều
năng lực sản xuất, nhiều nguồn lực chưa được huy động để đẩy mạnh quá
trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy để đẩy mạnh quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn cần phát triển
mạnh nền nông nghiệp hàng hóa hướng vào xuất khẩu, bằng cách khuyến
khích và khôi phục, phát triển các ngành nghề truyền thống, nâng cao độ
8
tinh xảo, tính dân tộc độc đáo trong các chủng loại mặt hàng. Đồng thời,
mở mang nhiều ngành nghề mới ở nông thôn, kết hợp cùng với phát triển
các ngành nghề kinh tế mũi nhọn như: chăn nuôi, trồng trọt. Đặc biệt là
công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản là một trọng tâm phát triển công
nghiệp tại nông thôn theo hướng chung là sơ chế tại chỗ và tinh chế tập trung.
Nông dân vừa là người cung cấp sản phẩm nông nghiệp cho thị
trường trong nước và xuất khẩu, vừa là người tiêu dùng đông đảo, với nhu
cầu ngày càng tăng, cả về khối lượng, chủng loại và chất lượng hàng hóa,
dịch vụ. Vì vậy nông thôn cung cấp sản phẩm cho thị trường, đồng thời
chính nông thôn là một thị trường rộng lớn mà các ngành sản xuất, dịch vụ
phải hướng vào phục vụ, đáp ứng cả về nhu cầu sản xuất lẫn tiêu dùng, cả
về vật chất cũng như văn hóa. Phát triển kinh tế nông thôn sẽ làm tăng sức
mua của nông dân, tạo động lực thúc đẩy các ngành công nghiệp và dịch vụ.
Trong mấy năm trở lại đây, các mặt hàng nông nghiệp của chúng ta
đã có mặt trên các thị trường lớn như: châu á, EU, Trung Đông nhiều mặt
hàng đã trở thành thế mạnh của chúng ta như gạo, nông sản Xuất khẩu
nông, lâm, thủy sản năm 2000 đạt 4,3 tỷ USD, gấp hơn 1,7 lần so với năm
1995, bình quân hàng năm chiếm khoảng 30% kim ngạch xuất khẩu của cả
nước, đã tạo được ba mặt hàng xuất khẩu chủ lực là gạo (đứng thứ 2 thế
giới), cà phê (đứng thứ 3) và thủy sản chiếm 34% trị giá kim ngạch xuất
khẩu toàn ngành: [6, tr. 225].
Cùng với việc hướng các sản phẩm nông nghiệp vào xuất khẩu,
chúng ta phải mở rộng quan hệ đối ngoại, phát triển hợp tác làm ăn với bên
ngoài, chúng ta ngày càng có thêm điều kiện tranh thủ nguồn vốn, tiếp thu
kỹ thuật và công nghệ, thúc đẩy cạnh tranh, mở rộng cho việc phát triển
công nghiệp nông thôn và công nghiệp phục vụ nông nghiệp.
Thứ ba, đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ mới vào phát
triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn.
Nông thôn và miền núi có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng đối
với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Thực tế cho thấy
9
một trong những yếu tố có tính quyết định bảo đảm sự thành công của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là quá trình
áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học và công nghệ. Hội nghị Ban chấp
hành Trung ương lần thứ 2 (khóa VIII) đã khẳng định: "Công nghiệp hóa,
hiện đại hóa phải bằng khoa học và công nghệ, dựa vào khoa học và công
nghệ" [4, tr. 61].
Tiếp đến Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 6 (khóa VIII)
tiếp tục khẳng định: Tập trung sức cao hơn nữa cho nhiệm vụ phát triển
nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa làm cơ sở vững chắc cho sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trong
mọi tình huống (trang 44). Vì vậy, nội dung cốt lõi của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
tăng nhanh các ngành sản xuất có hàm lượng khoa học công nghệ cao, giá
trị gia tăng lớn. Thời gian qua khoa học công nghệ đã có đóng góp tích cực
vào phát triển sản xuất nông nghiệp.
Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, ước
tính 30 - 35% giá trị gia tăng của sản xuất lương thực là do đóng góp của
khoa học công nghệ. Nhiều tiến bộ khoa học công nghệ được nông dân tiếp
thu nhanh. Các viện, trường đã huy động lực lượng nghiên cứu giải quyết
các vấn đề khoa học công nghệ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và công
nghiệp hóa nông thôn.
Trong nhiều kế hoạch 5 năm các hoạt động khoa học công nghệ đã
hướng vào phục vụ nông nghiệp và nông thôn, các chương trình cấp nhà
nước, đề tài cấp bộ đã tập trung vào giải quyết một số nội dung như: các
giống cây, con, phương pháp nuôi, trồng tiên tiến, xây dựng các mô hình
chuyển giao công nghệ, tiến bộ kỹ thuật phù hợp với điều kiện nông thôn,
miền núi, đưa công nghệ mới vào để phát huy thế mạnh về cây công
nghiệp, dược liệu, chăn nuôi đưa công nghiệp chế biến vào nông thôn, tạo
nên sản phẩm hàng hóa, nâng cao dân trí, đào tạo nghề nghiệp.
10
Các viện, trường đã đưa lực lượng khoa học công nghệ về nông
thôn hướng dẫn nhân dân ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển giao công
nghệ. Ngành nông, lâm, thủy sản tính đến cuối năm 1998 đã có 31 cơ quan
khoa học công nghệ, trong đó có 19 viện và trung tâm nghiên cứu thuộc bộ,
4 viện và 8 trung tâm nghiên cứu thuộc các tổng công ty. Có 2 trường Đại
học lâm nghiệp, 2 trường Đại học thủy lợi, 6 trường Đại học nông nghiệp,
1 trường Đại học thủy sản. Số cán bộ nghiên cứu khoảng 7000 người (trên
đại học 510 người, đại học 3.700 người. Đây là lực lượng không nhỏ, đã có
những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn:
- Trong lĩnh vực trồng trọt:
Việc áp dụng đồng bộ các kỹ thuật tiến bộ như: thay đổi các cơ cấu
mùa vụ, cơ cấu giống cây trồng, cơ cấu sản xuất các giống mới có năng
suất cao, thích hợp với các điều kiện sinh thái, chống sâu bệnh góp phần
vào việc nâng cao năng suất, sản lượng, chất lượng, đa dạng hóa các sản
phẩm trồng trọt. Nổi bật trong lĩnh vực này là giống cây trồng. Từ năm
1991, khoảng gần 100 giống cây trồng mới đã được công nhận là giống
quốc gia và đã được áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp trên phạm
vi cả nước.
- Trong lĩnh vực chăn nuôi:
Với kỹ thuật, tiến bộ về giống vật nuôi như giống lợn lai, lợn nạc,
bò sữa các tiến bộ về thức ăn, biện pháp nuôi dưỡng, cũng như thú y đã
góp phần đáng kể trong việc đẩy tốc độ gia tăng giá trị của tổng sản phẩm
chăn nuôi nhanh hơn trồng trọt trong những năm gần đây và phục vụ cho
việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng đưa sản xuất chăn nuôi
thành một ngành chính cân đối hơn trong cơ cấu nông nghiệp.
- Trong lĩnh vực cơ giới hóa nông nghiệp và chế biến nông, lâm,
thủy sản:
Tuy chưa làm được nhiều và những đóng góp của khoa học công
nghệ trong lĩnh vực này chưa có khả năng góp phần làm thay đổi cục diện
11
cũng như giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp, song các công nghệ
thích hợp, được áp dụng ở các mức độ khác nhau đã bước đầu góp phần
vào việc gia tăng năng suất lao động, chất lượng của một số sản phẩm nông
nghiệp đã góp phần vào tốc độ gia tăng khá cao của giá trị tổng sản lượng
công nghiệp chế biến, đạt bình quân 9,85% trong những năm qua. Theo báo
cáo của Bộ Khoa học công nghệ và môi trường, từ năm 1991 đến năm 1998
đã có 114 dự án của chương trình khoa học công nghệ phục vụ nông thôn
và miền núi. Nguồn tài chính được huy động khoảng 135 tỷ đồng. Lực
lượng cán bộ khoa học công nghệ được huy động khoảng 1.700 người,
phần lớn là cán bộ của viện nghiên cứu và trường đại học. Bên cạnh đó còn
nhiều chương trình như: phủ xanh đất trống, đồi núi trọc (327), xóa đói
giảm nghèo, khuyến nông với kinh phí đã thực hiện lên tới 1.835 tỷ động.
Với các chương trình này, bộ mặt nông thôn đã được đổi mới.
Tuy vậy, nhìn chung mấy năm vừa qua sự phát triển của khoa học
công nghệ trong nông nghiệp, nông thôn vẫn còn chậm. Vai trò, động lực
và tiềm năng to lớn của khoa học công nghệ đối với phát triển nông nghiệp
và nông thôn chưa được phát huy. Nhiều mô hình tốt về khoa học công
nghệ chưa được nhân rộng, lực lượng khoa học công nghệ chưa được huy
động tốt vào phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Vì vậy tại Đại hội IX Đảng ta nhấn mạnh: "Trong nông nghiệp tập
trung nghiên cứu ứng dụng để có bước đột phá về giống cây, con có năng
suất và giá trị cao, nghiên cứu và đưa vào ứng dụng tốt công nghệ sinh học,
công nghệ bảo quản sau thu hoạch, công nghệ chế biến nông sản [6, tr. 295].
1.1.2. Những yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
vùng dân tộc thiểu số và miền núi
Sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đã và đang đặt ra những yêu cầu
mới cho nông nghiệp, nông thôn nói chung và nông nghiệp, nông thôn
miền núi, vùng dân tộc thiểu số nói riêng. Những yêu cầu ấy đã được Đảng
và Nhà nước cụ thể hóa trong chính sách dân tộc, trên tất cả các lĩnh vực:
12
Về kinh tế: Phát triển kinh tế miền núi và vùng dân tộc thiểu số,
khắc phục, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về trình độ kinh tế giữa các dân
tộc, các vùng.
Miền núi là một địa bàn rộng lớn, chiếm đến 3/4 diện tích tự nhiên
của nước ta. Những địa hình hiểm trở, bị chia cắt bởi núi cao, vực sâu, sông
suối khiến cho giao thông khó khăn, đó là một đặc điểm tự nhiên hạn chế
sự phát triển kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số. Do hoàn cảnh tự nhiên
và lịch sử, nền kinh tế của đồng bào miền núi mang nặng tính chất tự nhiên,
tự cấp, tự túc, kinh tế hàng hóa kém phát triển. Năm 1945 nước Việt Nam
dân chủ Cộng hòa ra đời, đến năm 1954 miền Bắc đi vào xây dựng chủ
nghĩa xã hội (CNXH) làm hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam. Công cuộc
xây dựng ở miền Bắc đã tác động sâu sắc tới sự phát triển của miền núi.
Nhiều tuyến giao thông ở Tây Bắc, Đông Bắc được mở mới. Núi rừng và
đồng bằng gần nhau hơn thông qua một hệ thống kinh tế được nhà nước tổ
chức chặt chẽ, thống nhất, trong đó các thành phần kinh tế quốc doanh và
tập thể là chủ yếu. ở miền núi, sản xuất công nghiệp do các doanh nghiệp
quốc doanh thực hiện, sản xuất nông nghiệp được hợp tác hóa, mạng lưới
thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán trải rộng để phân phối
hàng hóa cho cán bộ, nhân dân và thu mua nông, lâm sản.
Hàng hóa, sản phẩm được mua, bán theo giá chỉ đạo của Nhà nước,
được điều hòa theo giá cả thống nhất hoặc chỉ chênh lệch rất ít giữa miền
núi và miền xuôi. Người dân ở miền núi cũng có điều kiện mua hàng gần
như ở miền xuôi, nông sản hàng hóa làm ra được bán cho thương nghiệp
quốc doanh, đó thực sự là biến đổi to lớn trong đời sống kinh tế của đồng
bào các dân tộc thiểu số.
Đại hội VI của Đảng đã vạch ra đường lối đổi mới, xóa bỏ cơ chế
tập trung, quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật
khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế. Ba năm sau, một số chủ
trương, chính sách lớn về phát triển kinh tế - xã hội miền núi đã được Bộ
13
Chính trị quyết định trong Nghị quyết số 22. NQ/TW ngày 27-11-1989 và
sau đó, được đưa vào thực hiện. Thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX với Nghị
quyết 22 và các chính sách phát triển vùng miền núi đã đi vào thực tiễn
cuộc sống của các dân tộc thiểu số và đã đem lại thành tựu bước đầu rất
đáng khích lệ, đánh dấu một thời kỳ phát triển mới của kinh tế - xã hội nói
chung, kinh tế hàng hóa miền núi nói riêng.
Vượt qua những khó khăn, thử thách, đảng bộ và nhân dân các dân
tộc miền núi không ngừng phấn đấu đạt được nhiều tiến bộ trong sự nghiệp
phát triển kinh tế, từng bước phát huy các thế mạnh của mình, tạo ra những
vùng chuyên canh lớn, làm ra ngày càng nhiều nông, lâm sản xuất khẩu,
mở mang công nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp. Bộ mặt nông
thôn ở miền núi có chuyển biến rõ rệt, một số thị trấn, thị xã, điểm công
nghiệp lớn đã hình thành. Tuy nhiên, đánh giá tổng quát, trình độ phát triển
kinh tế - xã hội ở miền núi còn ở mức thấp. Kết cấu hạ tầng, đặc biệt là
đường giao thông ở miền núi, nhất là ở các xã vùng cao, xa xôi, hẻo lánh
còn kém phát triển và bị chia cắt, chưa thành các hệ thống thông suốt giữa
các vùng, kìm hãm mở mang giao lưu ở miền núi cũng như giữa miền núi
và miền xuôi. Bộ phận chủ yếu trong cơ cấu kinh tế là quốc doanh và tập
thể lại hoạt động kém hiệu quả. Đại bộ phận các hợp tác xã ở nông thôn
miền núi mang nặng tính hình thức, nhất là các hợp tác xã nông nghiệp
vùng cao, kinh tế hộ gia đình và các loại hình kinh tế hợp tác ở trình độ phù
hợp chưa được chú ý đúng mức. Thương nghiệp nhỏ, tương ứng với trình
độ sản xuất hàng hóa nhỏ bị phân tán thu hẹp, có nơi bị xóa bỏ. Trên nền
kết cấu hạ tầng và cơ cấu kinh tế như vậy, kết quả là không tránh khỏi kinh
tế tự nhiên và nửa tự nhiên còn chiếm tỷ lệ không nhỏ, kinh tế hàng hóa
chưa phát triển.
Từ thực trạng trên tại đại hội lần thứ IX của Đảng, Đảng ta chỉ ra:
"Tập trung đầu tư nâng cấp các quốc lộ: 6, 2, 3, 1, 70, 37, 4D, 279, 32, 42.
Khôi phục và nâng cấp các đường vành đai quốc lộ 4, N1, N2 để tạo ra
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét