Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

246180

Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
5
Đối tượng của sản xuất nơng nghiệp là những cơ thể sống, khác với đối tượng sản
xuất của cơng nghiệp là những vật vơ tri vơ giác, các cây trồng vật ni torng nơng
nghiệp là những sinh vật, chúng có q trình phát sinh, phát triển và suy thối. Q trình
sản xuất nơng nghiệp là q trình chuyển hóa vật chất năng lượng cho q trình sinh
trưởng của cây trồng và do địa bàn sản xuất nơng nghiệp lại bố trí trên phạm vi khơng
gian rộng lớn nên sản xuất nơng nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên, nó chịu sự chi
phối của các điều kiện sinh sống như mơi trường chế độ dinh dưỡng, thời tiết, khí hậu…
khơng chỉ trong q trình sản xuất sinh học mà cả những cơng việc sau thu hoạch như
bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cũng mang tính sinh học. Các nơng sản khó bảo
quản và khơng dễ kéo dài thời gian chế biến, tiêu thụ như sản phẩm cơng nghiệp. Do vậy
sản xuất nơng nghiệp thường mang tính khơng ổn định , khơng chắc chắn. Ngồi ra yếu
tố kinh tế nó còn mang tính sinh vật thuần t.
3.2. Đặc thù của lao động sản xuất nơng nghiệp
Trong nơng nghiệp, thời gian lao động và thời gian sản xuất khơng trùng khớp.
Thời gian sản xuất kéo dài suốt thời kì sinh trưởng của cây trồng vật ni, còn thời gian
lao động lại mang tính chất thời vụ. Tuy lao động mang tính thời vụ, nhưng cây trồng lại
đòi hỏi phải được quan tâm chăm sóc trong suốt thời kì sinh trưởng, tức là trong suốt cả
thời gian sản xuất
Do thời gian kéo dài phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên, mọi cơng đoạn
trong q trình sản xuất đều phụ thuộc vào kết quả cuối cùng, chi phí của từng khâu lao
động khơng quyết định trực tiếp kết quả cuối cùng, do đó rất khó kiểm tra đánh giá từng
khâu cơng việc như trong cơng nghiệp. Vì thế, tổ chức lao động kiểu làm cơng, phân phối
theo ngày cơng hay theo kết quả từng khâu cơng việc là khơng thích hợp và kém hiệu
quả.
Do lao động mang tính thời vụ nên khi thời vụ thì cần nhiều lao động, lúc nơng
nhàn lại cần ít lao động. Hiện tượng thừa lao động lúc nơng nhàn ở nơng thơn là rất phổ
biến. Chính vì thế, trong sản xuất nơng nghiệp khó chun mơn hố, tiêu chuẩn hố như
trong cơng nghiệp. Trong nơng nghiệp cần đến hình thức tổ chức lao động gọn nhẹ, linh
hoạt, hiệu quả, biết kết hợp các loại lao động, biết tận dụng mọi khả năng và thời gian để
tạo thêm việc làm, tăng thu nhập.
3.3. Đặc thù của tư liệu sản xuất đặc biệt ruộng đất:
Ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt, khơng gì có thể thay thế được trong sản xuất
nơng nghiệp. Ruộng đất khơng chỉ là địa bàn diễn ra q trình sản xuất mà còn là và chủ
yếu là nơi kết hợp lao động và các yếu tố tự nhiên để ni dưỡng cây trồng. Trên một
khía cạnh nào đó, có thể nói đất đai cũng mang tính sinh học của cây trồng. Nếu đất đai
được chăm sóc bồi bổ thường xun thì cây trồng mới có năng suất cao. Ngược lại, nếu
khơng được chăm sóc tốt hoặc canh tác theo kiểu bóc lột sẽ gây thiệt hại lâu dài cho sản
xuất.
Qua lịch sử các cuộc cách mạng nơng nghiệp cho đến nay, người ta đều thừa nhận
rằng muốn kinh doanh nơng nghiệp có hiệu quả thì đất đai phải có người chủ cụ thể, và
người chủ ấy khơng phải ai khác mà phải là người lao động trực canh trên từng mảnh đất
ấy.
Nói tóm lại, do đặc thù của sản xuất nơng nghiệp như đặc tính sinh học của đối
tượng sản xuất, đặc thù của lao động sản xuất, của tư liệu sản xuất trong nơng nghiệp; sản
xuất nơng nghiệp đòi hỏi phải có những điều kiện sau đây:
- Cây trồng vật ni trong nơng nghiệp phải được chăm sóc tỉ mỉ, chu đáo.
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
6
- Ruộng đất phải có chủ cụ thể, ổn định.
- Tổ chức lao động trong nơng nghiệp phải gọn nhẹ, linh hoạt để đạt hiệu quả cao
nhất.
- Người lao động trong nơng nghiệp khơng chỉ phải có tính cần cù, có kĩ năng và
kinh nghiệm sản xuất mà còn phải có tấm lòng của một người chủ, có tình u
đối với cây con, với đất đai của mình. Họ khơng chỉ được làm chủ về lao động,
về tư liệu sản xuất (trước hết là đất đai), làm chủ q trình sản xuất mà còn phải
được làm chủ q trình phân phối sản phẩm.
4. Những nét đặc trưng của kinh tế nơng hộ:
Những đòi hỏi sản xuất nơng nghiệp trên đây xác định vị trí của kinh tế nơng hộ
và tính hiệu quả của nó. Đồng thời chính đặc thù của sản xuất nơng nghiệp, kinh tế nơng
dân đã làm cho kinh tế nơng hộ có những đặc trưng sau đây:
Thứ nhất: kinh tế nơng hộ là hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với đặc điểm
của sản xuất nơng nghiệp mà đối tượng sản xuất là các sinh vật. Người nơng dân- người
chủ thực sự của q trình sản xuất trực tiếp tác động vào q trình sinh trưởng của cây
trồng vật ni, khơng qua khâu trung gian, họ làm việc khơng kể giờ giấc, bám sát ruộng
đồng nên đạt hiệu quả cao.
Thứ hai: kinh tế nơng hộ có khả năng sử dụng hợp lý lao động và tạo việc làm ở
nơng thơn. Kinh tế nơng hộ có cấu trúc lao động đa dạng, phức tạp, trong một hộ có
nhiều loại lao động, vì vậy hộ vừa là chủ thể trực tiếp điều hành quản lý tất cả các khâu
vừa trực tiếp điều hành quản lý tất cả các khâu, vừa trực tiếp làm nhiều khâu cơng việc
của q trình sản xuất. Do sản xuất nơng nghiệp mang tính thời vụ, nên thời gian nơng
nhàn ở nơng thơn thường thiếu việc làm nghiêm trọng. Hiện nay ở nước ta, lao động
trong nơng nghiệp chỉ sử dụng khoảng 40% quỹ thời gian.
Thực tiễn ở các nước trên thế giới và cả ở nước ta cho thấy kinh tế nơng hộ là một
trong những hình thức cơ bản để thực hiện kết hợp nơng nghiệp với các ngành phi nơng
nghiệp.
Hộ nơng dân là chủ thể trực tiếp đối phó với tình trạng mất cân đối đấi đai, lao
động và việc làm ở nơng thơn. Vì vậy, họ thường tìm cách sử dụng những điều kiện vật
chất vốn có để kết hợp với sức lao động, tạo ra sản phẩm và thu nhập. Do mức đầu tư cho
lao động trong các nơng hộ nhỏ hơn trong cơng nghiệp, tức là tỉ trọng giữa lao động vật
hóa và lao động sống để tạo việc làm mới thấp, như số liệu sau đây:
- Vốn đầu tư của hộ cá thể: 1,3 triệu đồng/1 lao động/1 việc làm.
- Xí nghiệp tư nhân: 3tr đồng/1lao động/1 việc làm.
- Kinh tế quốc doanh địa phướng (vốn tài sản cố định) : 12 tr đồng/1 lđ/1 việc làm (
chưa kể vốn lưu động).
Chính vì vậy, cùng một điều kiện về vốn, kinh tế nơng hộ có ưu thế hơn trong việc
phát triển các ngành nghề tạo cơng ăn việc làm trong điều kiện hiện nay.
Thứ ba: kinh tế nơng hộ có khả năng tự điều chỉnh rất cao. Do có chung một cơ
sở kinh tế, chung ngân sách gia đình, nên mọi thành viên trong gia đình đều chịu trách
nhiệm và có lợi ích chung về kết quả cuối cùng, cũng như cùng chịu chung những thiệt
hại về mùa màng do thiên tai, sâu bệnh hay những rủi ro trong tiêu thụ sản phẩm… việc
điều chỉnh giữa tích luỹ, tiêu dùng đầu tư phát triển sản xuất thường được quyết định theo
các mục tiêu của hộ, có khi dành cả một phần sản phẩm chủ yếu đầu tư cho sản xuất,
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
7
song cũng có khi khơng đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu. Tính cơ động này làm cho
kinh tế nơng hộ có khả năng thích ứng nhất định với sự thay đổi đầu vào, đầu ra của q
trình sản xuất. Do là đơn vị sản xuất gọn nhẹ, linh hoạt, lại làm chủ hồn tồn q trình
sản xuất nên kinh tế nơng hộ có khả năng thích nghi với cơ chế thị trường, tạo ra sức
cạnh tranh trong sản xuất- kinh doanh nơng nghiệp.
Thứ tư: kinh tế nơng hộ là một đơn vị tự tạo nguồn lao động khơng chỉ tái sản
xuất sức lao động mà còn tái sản xuất ra lao động kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Những kinh nghiệm sản xuất, những kỹ năng lao động, thậm chí cả tình u đối với
ruộng đồng được đào luyện hàng ngày trong các nơng hộ cho các nơng gia tương lai. Có
lẽ còn hồn hảo hơn bất cứ sự đào tạo nào trong các nhà trường hiện đại (nói như vậy
khơng phải là coi nhẹ việc đào tạo tri thức trong các nhà trường).
Thứ năm: kinh tế nơng hộ tuy là một đơn vị kinh tế độc lập nhưng khơng đối lập
với kinh tế hợp tác và kinh tế Nhà nước mà lại có tính chất mềm dẻo, có khả năng tồn tại
với nhiều hình thức sở hữu khác nhau thơng qua các hoạt động kinh tế đa dạng. Chính sự
phát triển của kinh tế nơng hộ đã làm nảy sinh nhu cầu liên doanh liên kết với nhau, hình
thành các tổ chức kinh tế hợp tác, liên kết với kinh tế Nhà nước để làm tăng năng lực của
mình.
Thứ sáu: do có sự thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất, nên
kinh tế nơng hộ giảm được tối đa chi phí quản lý và vì lao động tự giác nên khơng những
nâng cao hiệu quả sản xuất.
Như vậy, với những đặc trưng trên đây, kinh tế nơng hộ chính là một hình thức tổ
chức sản xuất kinh doanh nơng nghiệp tất yếu phù hợp với đặc điểm của sản xuất nơng
nghiệp, đặc biệt là q trình sản xuất sinh học các cây trồng vật ni.
II - VAI TRỊ TỰ CHỦ CỦA KINH TẾ NƠNG HỘ VÀ NHU CẦU HỢP
TÁC:
Kinh tế nơng hộ là một đơn vị kinh tế tự chủ tức là hộ gia đình nơng dân có quyền
làm chủ trên cả 3 mặt: sở hữu, quản lý và phân phối. Chính sự thống nhất biện chứng
giữa quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối trong kinh tế nơng hộ đã làm
cho kinh tế nơng hộ thực hiện được vai trò tự chủ của mình, thể hiện trên các phương
diện: tự xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về lổ- lãi, tự quyết
định chuyển dịch cơ chế đầu tư cơ cấu sản xuất, tự quyết định việc liên kết liên doanh.
Giữa vai trò tự chủ của kinh tế nơng hộ và nhu cầu hợp tác có mối quan hệ biện
chứng. Sự phát triển của kinh tế nơng hộ khơng loại trừ, mà chính là điều kiện, tiền đề
cho sự ra đời các hình thức hợp tác. Kinh tế nơng hộ trong q trình phát triển, đặc biệt là
phát triển lên sản xuất hành hố đòi hỏi phải có sự liên doanh, liên kết hợp tác để khắc
phục những hạn chế của chính mình.
Ơ nước ta, Đảng đã sớm nhận rõ sai lầm của con đường hợp tác xã – tập thể hố
trong nơng nghiệp và đã tiến hành đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nơng nghịêp, trong đó
có những nội dung quan trọng như xác nhận vai trò đơn vị kinh tế tự chủ của các nơng
hộ, đổi mới cớ chế kinh tế hợp tác theo các hướng:
- Trao quyền tự chủ cho các nơng hộ trên cả 3 phương diện: quan hệ sở hữu, quan hệ
quản lý và quan hệ phân phối.
- Họ và hợp tác xã là 2 chủ thể bình đẳng, hợp tác xã khơng triệt tiêu hay hồ tan
kinh tế nơng hộ mà hỗ trợ cho kinh tế nơng hộ phát triển lên sản xuất hàng hố.
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
8
- Hợp tác xã khơng phải là tập thể hố như trước đây, mà hợp tác xã ra đời trên cơ sở
kinh tế nơng hộ, tơn trọng tính độc lập tự chủ của kinh tế nơng hộ, thực hiện những
khâu, những cơng việc mà hộ làm kém hiệu quả.
- Phát triển đa dạng các hình thức hợp tác, phù hợp với trình độ của các loại hộ.
- Phát triển nơng hộ là tạo điều kiện ra đời các hình thức hợp tác mới có hiệu quả và
ngược lại các hợp tác xã sẽ hỗ trợ cho kinh tế nơng hộ phát triển.


CHƯƠNG II: KINH TẾ NƠNG HỘ VIỆT NAM QUA CÁC GIAI
ĐOẠN LỊCH SỬ

I - SỰ VẬN ĐỘNG CỦA KINH TẾ NƠNG HỘ QUA CÁC GIAI ĐOẠN
LỊCH SỬ:
Có thể chia làm hai giai đoạn: trước Cách mạng Tháng Tám 1945 và sau Cách
mạng Tháng Tám 1945.
1.Kinh tế hộ nơng dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945:
Kinh tế hộ nơng dân nước ta được hình thành, phát triển qua nhiều biến động của
lịch sử hàng ngàn năm nay.
Trong kỷ ngun Đại Việt, qua các triều đại phong kiến, nơng dân sử dụng ruộng
đất của nhà vua, ruộng đất cơng của làng xã quản lý, ruộng đất của quan lại (điền trang,
thái ấp) để cày cấy và phải nộp tơ, thuế, đi lính, đi phu. Về sau, ruộng đất tư ngày càng
tăng lên do người nơng dân sử dụng các loại ruộng đất có nguồn gốc khác nhau bao gồm
ruộng cơng của từng làng xã được qn cấp định kỳ thường là 3 năm, ruộng đất tư do
nơng dân tự khai phá hoặc mua của người khác và ruộng đất lĩnh canh của địa chủ. Thành
phần số đơng nơng dân là tiểu nơng, sản xuất tự cấp tự túc là chủ yếu. Một số hộ nơng
dân khá giả, ngồi phần tự túc, có sản xuất một số nơng sản hàng hố nhưng khơng
nhiều. Hộ nơng dân có loại tự canh tác trên ruộng đất riêng và loại tá điền cày cấy trên
ruộng đất lĩnh canh của địa chủ.
Thời cực thịnh của các triều đại phong kiến như triều vua Lê Thánh Tơng, tổ chức
và kỹ thuật của sản xuất nơng nghiệp của kinh tế hộ nơng dân đạt trình độ khá cao, khơng
thua kém nước nào trong khu vực. Các hộ nơng dân có những giống cây trồng, vật ni,
các cơng cụ và kỹ thuật sản xuất phù hợp với đặc điểm điều kiện nơng nghiệp lúc bấy
giờ. Nhưng đến cuối triều Lê, thời Trịnh- Nguyễn phân tranh, chế độ phong kiến suy tàn,
kinh tế nơng hộ gặp nhiều khó khăn do chiến tranh kéo dài, tơ, thuế, lao dịch nặng nề làm
cho nơng nghiệp đình đốn.
Thời Tây Sơn, sau chiến thắng qn Thanh,vua Quang Trung xuống chiếu khuyến
nơng và thực hiện chính sách ruộng đất tiến bộ, khuyến khích khai hoang, giảm nhẹ tơ,
thuế nên kinh tế hộ nơng dân được phục hồi và khởi sắc.
Thời Pháp thuộc, nơng nghiệp nước ta ngồi lúa màu, bắt đầu phát triển một số
cây trồng cơng nghiệp xuất khẩu như cao su, cà phê. Phương thức sản xuất chủ yếu vẫn
là chế độ phong kiến, có sự xâm nhập của chế độ tư bản do thực dân Pháp đưa vào. Tổ
chức sản xuất nơng nghiệp phổ biến vẫn là kinh tế hộ nơng dân tiểu nơng sản xuất tự túc
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
9
nhưng đồng thời cũng hình thành lực lượng sản xuất nơng sản hàng hố cung cấp trong
nước và cho xuất khẩu.
Kinh tế hộ nơng dân tiểu nơng bao gồm bần nơng ít ruộng đất, thiếu vốn; phần lớn
là cổ đơng – tá điền (vơ sản nơng thơn) lĩnh canh ruộng đất của địa chủ với địa tơ rất cao
– chiếm 50% sản lượng trở lên – nên sản xuất khơng đủ ăn và thường xun nghèo đói.
Tầng lớp trung nơng có ruộng đất riêng (ít hoặc nhiều), có vốn sản xuất, đủ ăn, có một số
sản xuất được một ít nơng sản hàng hố.
Sau đây là những số liệu để minh hoạ tình trạng nơng hộ dưới chế độ thực dân
phong kiến:
Theo số liệu thống kê trước Cách mạng 8/1945, nơng dân chiếm 97% tổng số
nơng hộ nhưng chỉ có khoảng 38% diện tích ruộng đất. Khoảng 40% số nơng hộ có chút
ít ruộng tư, còn lại ½ (ớ Bắc Kỳ và Trung Kỹ) và 2/3 số hộ ở Nam Kỳ khơng có lấy
“mảnh đất cắm dùi”.
Theo số liệu của Yves Henry (1930) thì:
- Ở Bắc Kỳ: số hộ có dưới 0.36 ha chiếm 61,8% có ruộng đất, số có từ 0.36-1,8 ha
chiếm 29,8%.
- Ơ Trung Kỳ: số hộ có dưới 0,5 ha chiếm 68,5% người có ruộng, số có 0.5-2.5 ha là
25.3% tổng số chủ ruộng.
- Ơ Nam Kỳ: số hộ có dưới 1 ha chiếm 33.6%, còn số hộ có 1-3 ha chiếm 38% tổng
số chủ ruộng.
Như vậy đa số nơng dân có ruộng ở nước ta chỉ có dưới 1 ha trong khi ở nhiều nước
châu Á, châu Mỹ, bình qn hộ nơng dân có từ 5-10 ha.
Vì khơng có hoặc thiếu ruộng đất, số đơng nơng dân phải đi làm th hoặc lĩnh
canh ruộng đất của địa chủ. Những người làm th phần lớn thuộc tầng lớp cố nơng (vơ
sản nơng thơn). Họ thường chỉ có việc làm hai tháng trong một năm vào hai mùa vụ:
tháng 5và tháng 10. Tiền cơng chỉ được 10-12 xu/ngày, cơm ni. Những năm kinh tế
khủng hoảng 1929-1933, thợ gặt mỗi người chỉ được 5-6 xu/ngày, có khi 3-4 xu/ngày
cũng phải làm.
Nếu tầng lớp cố nơng sống bằng làm th hay lĩnh canh (tá điền) thì bần nơng và
một bộ phận trung nơng lớp dưới – những người có chút ít ruộng đất – thường phải lĩnh
canh ruộng đất của địa chủ để cày cấy thêm. Việc làm th chỉ là phụ ở tầng lớp này.
Địa chủ chỉ có ruộng , còn tá điền hay người lĩnh canh nhận ruộng cày cấy từ lúc
còn trơ đất đến lúc thu hoạch, bao nhiêu phí tổn về phân, giống, cơng cày bừa, chăm
bón… họ phải chịu hết. Vậy mà sau mỗi vụ gặt, tá điền phải nộp cho địa chủ 50%, thậm
chí 75% hoa lợi.
Ngồi địa tơ chính, tá điền còn phải nộp cho địa chủ nhiều khoản tơ phụ như tơ
trâu, tơ nước, tơ nơng cụ, làm cơng khơng, biếu xén cho chủ những dịp giỗ, Tết…
Sau khi nộp các thứ tơ cho địa chủ, tá điền chẳng còn mấy hột lúa trong nhà. “treo
hái là treo niêu” câu nói đó diễn tả tình cảnh người tá điền thời ấy. Gặp kỳ giáp hạt hoặc
khi thuế giục sưu dồn, người nơng dân nghèo khơng có cách nào khác là phải vay nợ. Dù
vay lúa hay tiền, ngắn hạn hay dài hạn, người nơng dân đều phải trả mức lãi rất cao.
Trong văn tự cho vay, địa chủ thường bắt nơng dân phải đem nhà, ruộng đất, vườn ra bảo
đảm. Vì thế, biết bao nhà có nợ địa chủ trước đó còn đợ nơng, đến mùa đong thóc, cứ trả
mãi mà khơng hết được nợ, cuối cùng phải gán ruộng cho chủ nợ. Đối với cố nơng
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
10
khơng có tài mùa sản bảo đảm, địa chủ cho chịu trơng nom. Vay 1, đến ngày mùa họ phải
làm cho địa chủ số cơng trị giá gấp 2-3 lần. Vì lãi xuất cao, lãi mẹ đẻ lãi con, cho nên
nhiều khi nơng dân đã trả cho chủ nợ số tiền hay lúa hoặc số cơng gấp mấy lần số nợ gốc
mà khoảng nợ gốc vẫn còn ngun. Có khi cả đời họ trả khơng xong phải để lại cho con
cháu tiếp tục “kéo cày trả nợ”.
Đã khổ vì tơ tức chồng chất, người nơng dân trước CM 8/1945 càng cực nhọc hơn
dưới ách sưu thuế nặng nề mà chế độ thực dân phong diến qng chặt vào cổ họ. Ngồi
thuế đinh (từ 0.5-2.5 đồng) và thuế điền kim ngạch ( thường bị tăng lên), người nơng dân
còn phải đóng góp hàng chục thứ ngoại phụ và bất thường khác bởi lẽ các cấp đều cần có
nguồn thu để tiêu xài riêng.
Ap bức xã hội cộng với sức tàn phá của thiên nhiên đã kìm hãm ghê gớm sức sản
xuất của hàng triệu nơng dân lao động nước ta. Năng suất cây trồng và năng suất lao
động rất thấp, trung bình lúa chỉ đạt 10-12 tạ/ha. Nơng dân quanh năm “đầu tắt mặt tối”
mà đói rách vẫn đói rách.
Theo chứng kiến của những người đương thời thì hàng năm, thợ cày phải ăn đói
đến 7-8 tháng, bần nơng 5-6 tháng, trung nơng 3-4 tháng. Trong những tháng ấy, họ phải
cầm hơi mỗi ngày một bữa, ăn cháo, ăn bắp, ăn khoai, cùng lắm thì ăn rau má, củ chuối,
củ mài để có cái nhét cho đầy bụng. Gần đến ngày mùa, ở nhà q, ta gặp những bộ mặt
hốc hác, xanh xao, cặp mắt lờ đờ, mép trắng dã. Đó là những bộ mặt đói cơm, mất máu
của dân cày nghèo vác hái đi tìm việc”.
Quần chúng nhân dân bị phá sản ngày càng nhiều thì tình trạng thất nghiệp, nửa
thất nghiệp và nhân khẩu thừa tương đối trong nơng thơn ngày càng tăng.
Tóm lại, dưới chế độ thực dân phong kiến, nơng dân ta lâm vào cảnh “một cổ đơi
ba tròng”. Họ bị các tầng lớp ăn bám xã hội là phong kiến, địa chủ, đế quốc và tư sản xâu
xé. “Chính họ là những người phải làm cho mọi cơng việc nặng nhọc, mọi thứ lao dịch.
Chính họ làm ra cho lũ người ăn bám,lũ người lười biếng, lũ người đi khai hố thụ
hưởng. Còn họ thì phải sống cùng khổ, nếu mất mùa thì họ chết đói trong khi những tên
đao phủ của họ sống thừa thải… Đó là họ bị ăn cắp khắp mọi phía, bằng mọi cách, do các
quan cai trị , do bọn địa chủ phong kiến và Nhà thờ”.
Trên đây là tình cảnh bi thảm của hộ nơng dân Việt Nam dưới các chế độ phong
kiến và thực dân trước CM 8/45.
2. Kinh tế nơng hộ Việt Nam sau Cách mạng Tháng 8/1945:
Cách mạng Tháng 8/1945 là cái mốc lịch sử đánh dấu sự thay đổi cơ bản của xã
hội Việt Nam, đồng thời là sự thay đổi của nơng dân Việt Nam.
Từ sau CM 8/45, kinh tế nơng hộ đã có những biến đổi sâu sắc và tác động tích
cực đến sản xuất nơng nghiệp phục vụ u cầu bảo vệ và xây dựng đất nước.
Từ sau tháng 8 năm 1945, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước
cơng nơng đầu tiên ở Đơng Nam Á đã từng bước giải quyết những vấn đề ruộng đất theo
khẩu hiệu “người cày có ruộng” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ giảm tơ, giảm tức, xóa
nợ tạm cấp, tạm giao và chia cấp ruộng đất các loại, nơng dân ta đã giành lại được nhiều
quyền lợi chính đáng của người lao động nơng nghiệp.
Năm 1954, kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi. Qua cải cách ruộng đất,
hai triệu hộ nơng dân miền Bắc được chia 810.000 ha ruộng đất tịch thu của địa chủ. Ơ
miền Nam từ Liên khu V trở vào, nơng dân được chia cấp 750.000 ha ruộng đất các loại,
riêng ở Nam Bộ 564.547 ha đã về tay nơng dân làm chủ.
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
11
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), hộ nơng dân là lực
lượng sản xuất lương thực thực phẩm cung cấp cho bộ đội ăn no đánh thắng. Với tinh
thần: “Ruộng rẫy là chiến trường, cày cuốc là vũ khí, nhà nơng là chiến sĩ, hậu phương
thì đau với tiền phương”, mỗi nơng dân là một chiến sĩ trên mặt trận nơng nghiệp hăng
hái thi đua đẩy mạnh sản xuất.
Sau ngày hồ bình lập lại, miền Bắc được hồn tòan giải phóng, nơng dân ra sức
khơi phục và phát triển kinh tế để xây dựng hậu phương và phục vụ tiền tuyến lớn miền
Nam.
Những năm 1955-1959 là thời kỳ khơi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh,
nơng dân miền Bắc đã khắc phục vơ vàn khó khăn, phát huy năng lực sáng tạo, phục hố
khai hoang, thâm canh, đẩy mạnh trồng trọt chăn ni đạt thành tích to lớn, vượt mức
sản xuất trước chiến tranh. So với năm 1939 là năm kinh tế phát triển nhất thời Pháp
thuộc thì các chỉ tiêu chủ yếu bình qn trong những năm 1955-1957 đều đạt cao hơn,
trong đó:
 Sản lượng lương thực quy thóc tăng 57%, riêng thóc tăng 53%.
 Năng suất lúa tăng 30,8%.
 Lương thực bình qn đầu người tăng 43,6%.
 Đàn trâu tăng 44%, đàn bò tăng 39%, đàn lợn tăng 20%.
 Thu nhập và đời sống nơng dân bước đầu được cải thiện.
Năng suất lúa ở miền Bắc năm 1957 đạt 18 tạ/ha/vụ, năm 1958 đạt 20.47 tạ, năm
1959 đạt 21.63 tạ: cao nhất so với các nước Nam Á, và Đơng Nam Á lúc bấy giờ.
Sản lượng thóc bình qn đầu người ở miền Bắc năm 1957 đạt 275.5 kg, năm
1958 đạt 304.6 kg và năm 1959 đạt 334 kg, là đỉnh cao nhất của nơng nghiệp nước ta
trong những năm trước đó và cả 20 năm sau.
Từ năm 1958 đến 1960 và cho đến gần 20 năm sau, chủ trương tiến hành HTHNN
thực chất là tập thể hố trên tồn miền Bắc và sau 1975 cả ở miền Nam. Các HTXNN
được thành lập trên cơ sở tập thể hố ruộng đất, trâu bò, lao động, xố bỏ quyền tự chủ
sản xuất của kinh tế hộ nơng dân, chỉ để lại 5% đất cho kinh tế phụ gia đình. Tập thể hố
nơng nghiệp đã làm lu mờ vai trò của kinh tế hộ nơng dân. Tồn bộ cơng việc từ sản xuất
đến phân phối đề do ban quản trị HTX điều hành.
Nhưng trong thực tế, kinh tế nơng hộ vẫn có sức sống mãnh liệt. Với hình thức là
kinh tế phụ gia đình với diện tích đất nhỏ bé 5%, các nơng hộ xã viên của HTXSXNN đã
đầu tư trí tuệ, cơng sức với số vốn và vật tư ít ỏi đã ứng dụng thành cơng các tiến bộ kỹ
thuật,kết hợp trồng trọt với chăn ni để lấy phân bón, thực hiện thâm canh tăng vụ. Kết
quả chỉ với 5% đất,bà con đã tạo ra những năng suất lúa kỷ lục cao gấp 2-3 lần năng suất
ruộng của tập thể. Phần thu nhập từ trồng trọt của kinh tế phụ gia đã bảo đảm trên 50%
tổng thu nhập của gia đình, còn thu nhập từ 95% đất của tập thể nhiều khi thấp hơn thu
nhập từ đất 5%.
Ơ miền Nam, thời kỳ 1954-1975, quần chúng nơng dân phải liên tục đấu tranh
chống chính quyền Sài Gòn, tay sai của đế quốc Mỹ, để bảo vệ những quyền lợi ruộng
đất mà Đảng Cộng sản và chính quyền cách mạng đã đưa lại từ sau CM 8/45. Chính
quyền Ngơ Đình Diệm đã tiếp tay cho giai cấp địa chủ giựt lại gần hết số ruộng đất cách
mạng đã cấp cho nơng dân. Đến Đồng Khởi 1959-1960, nơng dân miền Nam vùng lên
giành lại chính quyền (ở cơ sở) và ruộng đất, mở rộng vùng giải phóng và bảo vệ được
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
12
quyền làm chủ ruộng đất trên 70% diện tích canh tác ở miền Nam cho đến ngày giải
phóng 1975.
Sau ngày miền Nam được giải phóng, đất nước được thống nhất, cơng cuộc tập thể
hố nơng nghiệp được tiến hành ở miền Nam theo mơ hình HTXNN của miền Bắc. Tập
thể hố nơng nghiệp đã hồn thành nhanh chóng ở vùng Dun hải miền Trung, vì ở đây
hầu hết là kinh tế tiểu nơng và có nhiều khó khăn sau chiến tranh. Ơ Nam Bộ, nhất là
ĐBSCL, tập thể hố gặp nhiều trở ngại vì số đơng nơng dân là người sản xuất hàng hố
khơng tự nguyện từ bỏ quyền làm chủ sản xuất. Vì vậy, số hộ nơng dân gia nhập HTX và
tập đồn sản xuất (TĐSX) chiếm tỉ lệ thấp và phần lớn mang tính hình thức. Sự xáo trộn
về tổ chức sản xuất cùng với hậu quả tiêu cực của việc điều chỉnh ruộng đất đã ảnh
hưởng đến sản xuất nơng nghiệp ở ĐBSCL sau chiến tranh.
Sau kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, Nhà nước tập trung đầu tư nhiều cho nơng
nghiệp, khơi phục và phát triển các cơng trình thuỷ lợi, nhập nhiều phân bón và máy móc
nơng nghiệp nhằm thúc đẩy nơng nghiệp phát triển nhanh. Nhưng kết quả tổng kết 5 năm
(1975-1980), sản lương thực khơng tăng và năm 1980 là năm ta gặp nhiều khó khăn về
lương thực vì nơng nghiệp giảm sút, trì trệ. Ngun nhân chủa yếu là do cơ chế quản lý
kinh tế nơng nghiệp theo mơ hình tập thể hố đã kìm hãm sản xuất ở cả hai miền Nam
Bắc, vì nơng dân khơng có quyền tự chủ sản xuất.
Trước tình hình ấy, tại một số địa phương ở miền Bắc (Vĩnh Phú, Hải Phòng) một
số HTX đã thực hiện “khốn chui”, giao cho hộ nơng dân xã viên một phần quyền tự chủ
sản xuất và phương thức này đã có tác động tích cực. Ơ Nam Bộ, một số TĐSX và
HTXNN đã để cho nơng hộ có quyền tự chủ trong sản xuất.
Vai trò kinh tế của nơng hộ bước đầu được khẳng định qua thực tiễn của 30 năm
HTHNN theo con đường tập thể hố. Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khố VI) năm 1979
chủ trương tạo điều kiện cho sản xuất “bung ra” bằng các giải pháp:
- Thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần.
- Cho các hộ xã viên mượn đất sản xuất để khắc phục tình trạng bỏ hoang đất.
- On định nghĩa vụ lương thực, điều chỉnh giá mua nơng sản, thực hiện mua theo giá
thoả thuận.
- Hạn chế trích lập các quỹ tập thể để tăng thu nhập cho xã viên.
- Thừa nhận kinh tế gia đình và coi kinh tế gia đình là một bộ phận hợp thành của
kinh tế XHCN.
Trên cơ sở kinh nghiệm và sáng kiến của nơng dân và lãnh đạo địa phương trong
thực tiễn sản xuất, Trung Ương đã đề ra chủ trương từng bước khắc phục những hạn chế
của cơ chế quản lý trong nơng nghiệp, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển theo hướng
từng bước xác lập lại vị trí của kinh tế hộ nơng dân trong nơng nghiệp, bắt đầu từ Chỉ thị
100 của Ban Bí thư (1981).
Theo Chỉ thị 100, hộ nơng dân xã viên bắt đầu được giao một phần quyền chủ động
trong quản lý sản xuất, cụ thể là được HTX khốn một số khâu canh tác và được hưởng
phần năng suất vượt khốn, đã có tác dụng khuyến khích nơng dân sản xuất, trong khi
HTX vẫn quản lý điều hành.
Nhờ có Chỉ thị 100, so với thời kỳ 1976-1980, năng suất lao động nơng nghiệp tăng
23.8%, sản lượng lương thực tăng 27%, diện tích cây cơng ngiệp tăng 62.1%, đàn bò tăng
33%, đàn heo tăng 22.1%. bình qn lương thực đầu người năm sau tăng hơn năm trước:
1981- 273 kg, 1985- 304 kg.
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
13
Những con số nêu trên cho thấy: kinh tế hộ nơng dân đã từng bước xác lập lại vị trí
của mình trong sản xuất nơng nghiệp.
Tuy nhiên, do Chỉ thị 100 còn một số nhược điểm làm hạn chế vai trò kinh tế của
hộ nơng dân nên tháng 4/1988, Bộ Chính trị Trung ương Đảng (khố VI) đã ra Nghị
quyết số 10 về đổi mới quản lý kinh tế nơng nghiệp và sau đó là Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 6 của Trung ương Đảng (khố VI) chủ trương:
- Thừa nhận hộ nơng dân là đơn vị kinh tế tự chủ nhận khốn.
- Nơng dân chỉ còn một nghĩa vụ: nộp thuế.
- Thực hiện chính sách một giá, với nơng dân chủ yếu là giá thoả thuận.
- Được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài.
- Thương mại hố vật tư.
- Kinh tế HTX có nhiều hình thức từ thấp đến cao, mọi tổ chức sản xuất kinh doanh
do người lao động tự nguyện góp vốn, góp sức, được quản lý theo ngun tắc dân
chủ, khơng phân biệt quy mơ và trình độ kỹ thuật.
Đây là bước thắng lợi quan trọng thứ hai (sau Chỉ thị 100) và là thắng lợi cơ bản
của kinh tế nơng hộ: từ vị trí phụ trợ, hộ nơng dân đã xác lập lại vị trí tự chủ.
Vậy là sau 30 năm tổ chức phong trào HTH (tập thể hố) nơng nghiệp, chúng ta đã
trở lại quan niệm đúng đắn về kinh tế nơng hộ và kinh tế hợp tác trong nơng nghiệp.
Từ sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, sản xuất nơng nghiệp đã có những chuyển
biến quan trọng. Ơ các địa phương, ruộng đất được giao cho hộ nơng dân sử dụng lâu dài.
Quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cùng với quyền sở hữu các tư liệu sản xuất khác – cơ sở
vật chất và pháp lý của quyền tự chủ sản xuất – là nguồn gốc tạo ra động lực mới thúc
đẩy hộ nơng dân hăng hái chăm lo sản xuất, đồng thời khắc phục tình trang vơ chủ trong
quản ý sử dụng đất đai và các tư liệu sản xuất khác trong nhiều năm qua.
Một khi trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, những tiềm năng về lao động, vốn, vật tư,
kinh nghiệm làm ăn của hộ nơng dân đã được huy động và dụng có hiệu quả hơn để thâm
canh tăng năng suất, mở rộng quy mơ sản xuất cả trồng trọt, chăn ni, thuỷ sản…
Từ thực tế của nhiều nước trên thế giới và từ những kết quả đổi mới quản lý kinh
tế nơng nghiệp nước ta trong những năm qua, có thể khẳng định: kinh tế nơng hộ là hình
thức kinh tế phù hợp với đặc điểm sản xuất nơng nghiệp và là hình thức chủ yếu trong hệ
thống tổ chức kinh tế nơng nghiệp.
II - NHỮNG VẤN ĐỀ RA TỪ THỰC TIỄN:
Nhìn lại tồn bộ q trình vận động và phát triển của kinh tế nơng hộ qua các giai
đoạn lịch sử, có thể rút ra một số vấn đề sau đây:
1. Sự tồn tại và phát triển của kinh tế nơng hộ là do đòi hỏi khách quan của nền sản xuất
nơng nghiệp. Tính khách quan ấy bị vi phạm thì nơng nghiệp sẽ khơng thể phát triển
được. Qua các giai đoạn lịch sử từ năm 1955 đến nay, chúng ta thấy rõ ràng khi nào kinh
tế nơng hộ được coi trọng, được đặt đúng vị trí của nó trong nền sản xuất nơng nghiệp thì
kinh tế nơng nghiệp và xã hội nơng thơn phát triển và ngược lại. Sự phát triển của kinh tế
– xã hội nơng thơn trước tập thể hố (1955-1959), sự suy thối của nơng nghiệp, nơng
thơn Việt Nam những năm tập thể hố nơng nghiệp (1960-1980) và từng bước được phục
hồi trong q trình đổi mới cơ chế quản lý từ 1981 đến nay đã cho thấy điều đó.
2. Điều kiện để kinh tế nơng hộ thực sự là một đơn vị kinh tế tự chủ bao gồm:
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
14
- Làm chủ tư liệu sản xuất, trước hết là ruộng đất.
- Làm chủ q trình tổ chức, quản lý sản xuất.
- Làm chủ q trình phân phối tiêu thụ sản phẩm.
Nếu khơng có đầy đủ các điều kiện trên đây, vai trò tự chủ của kinh tế nơng hộ
chưa được đảm bảo thì nền sản xuất nơng nghiệp cũng khơng thể phát triển bình thường.
Biện chứng của q trình từ “khốn chui” đến “khốn 100” rồi đến “khốn 10” và đến
Nghị quyết TW6 (khố VI) khẳng định hộ nơng dân là đơn vị kinh tế tự chủ đã thể hiện
rõ điều đó.
3. Hợp tác xã trong nơng nghiệp là q trình xã hội hố từng bước nền sản xuất nơng
nghiệp, nhưng do tính đặc thù của sản xuất nơng nghiệp, q trình hợp tác trong nơng
nghiệp diễn ra khác với trong cơng nghiệp. HTX trong nơng nghiệp khơng phải là sự tập
trung tư liệu sản xuất, ruộng đất, vốn, lao động để quản lý theo kiểu “làm cơng ăn điểm”
khơng phải là sự tập trung những đơn vị sản xuất quy mơ nhỏ – kinh tế hộ nơng dân
thành một đơn vị sản xuất quy mơ lớn theo kiểu cơng nghiệp, mà chỉ là những khâu,
những chức năng mà HTX tiến hành thì có lợi hơn các nơng hộ làm riêng lẻ. HTX khơng
triệt tiêu kinh tế nơng hộ mà chỉ bổ trợ cho kinh tế nơng hộ ngày càng phát triển.
Sai lầm của mơ hình HTX – tập thể hố kéo dài mấy thập kỷ qua là:
- Khơng nhận thức đúng đặc thù của sản xuất nơng nghiệp gắn với nó là vai trò tự chủ
của kinh tế nơng hộ. Việc xố bỏ kinh tế nơng hộ làm cho q trình sản xuất sinh học
mất đi người chủ thực sự của nó.
- Tập trung hố sản xuất nơng nghiệp theo kiểu cơng nghiệp đồng nhất hợp tác hố với
tập thể hố khơng phù hợp với đặc thù của sản xuất nơng nghiệp. Vì vậy, tập trung
hố càng cao thì sản xuất càng kém hiệu quả.
- Nhận thức đơn giản về CNXH, đặc biệt là quan niệm đồng nhất sở hữu cơng cộng về
tư liệu sản xuất với bản chất của CNXH, đối lập siêu hình CNXH với CNTB kể cả
việc xây dựng những mơ hình kinh tế.
- Nhận thức sai về nơng dân, coi nơng dân chỉ là những người có đầu óc tư hữu đi
ngược với bản chất của CNXH. Vì vậy, cần phải xố bỏ cơ sở kinh tế của họ bằng
cách tách họ ra khỏi tư liệu sản xuất, tập trung tồn bộ ruộng đất vào sản xuất tập thể
để tránh nguy cơ phát triển CNTB ở nơng thơn.
- Bối cảnh quốc tế lúc đó, ở tất cả các nước đi theo con đường XHCN đều thực hiện mơ
hình tập thể hố sản xuất nơng nghiệp. Nước ta bước vào xây dựng CNXH tương đối
muộn so với các nước, hơn nữa nhận thức lý luận của chúng ta vào thời điểm đó cũng
chưa vượt được nhận thức lý luận- thực tiễn của những người cộng sản quốc tế, do đó
việc áp dụng mơ hình tập thể hố sản xuất nơng nghiệp vào nước ta là khó tránh khỏi.
- Do nơn nóng, chủ quan, duy ý chí trong chỉ đạo thực tiễn, việc tập thể hố nơng
nghiệp đã được tiến hành một cách nhanh chóng, ồ ạt, khơng tơn trọng đúng quy tắc
“tự nguyện dân chủ”, lấy việc thực hiện mục tiêu chính trị thay cho mục tiêu kinh tế,
nên mơ hình tập thể hố sản xuất đã được xây dựng một cách áp đặt vào nơng thơn,
xố bỏ kinh tế nơng hộ một cách triệt để.
- Chiến tranh và viện trợ quốc tế đã che lấp những sai lầm của việc tập thể hố sản xuất
nơng nghiệp, gòp phần củng cố và kéo dài sự tồn tại của nó trong nhiều năm. Tập thể
hố dường như có sự phù hợp nhất định với việc tập trung sức người sức của cho tiền
tuyến, còn những yếu kém trong sản xuất, sự suy giảm về kinh tế đã được viện trợ
kinh tế bù đắp.

Xem chi tiết: 246180


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét