Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

262 Nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng trái cây xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn 2006 - 2015


34



MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Điều kiện thuận lợi về khí hậu và thổ nhưỡng tại Việt Nam là mảnh đất màu
mỡ cho hàng ngàn cây trái nhiệt đới, ôn đới tróu quả quanh năm từ Bắc vào Nam.
Những chủng loại trái cây phong phú đa dạng và đậm đà hương vò khó nơi nào bì kòp
như : bưởi Năm Roi, xoài cát Hòa Lộc, nhãn lồng Hưng Yên là cơ sở cần thiết cho
phát triển nghề trồng cây ăn trái Việt Nam, một nghề có từ lâu đời . Tuy vậy, khi
thâm nhập thò trường EU- một thò trường đầy tiềm năng, mặt hàng trái cây nhiệt đới
Việt Nam gặp khó khăn lớn khi phải đối mặt với một môi trường cạnh tranh khốc
liệt. Nguyên nhân chủ yếu là do Năng Lực Cạnh Tranh của mặt hàng trái cây còn
yếu. Hay nói đúng hơn , Việt Nam còn thiếu một sự đầu tư thích đáng cho sự phát
triển của ngành rau quả. Trong khi đó, các quốc gia khác trong khối ASEAN có
điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng khá tương đồng với Việt Nam như Thái Lan,
Malaysia đã tận dụng hiệu quả những tiềm năng vốn có của nền nông nghiệp
nhiệt đới đa dạng, phong phú của mình đi đôi với chính sách phát triển sản xuất,
xuất khẩu trái cây hợp lý, đã và đang khẳng đònh vò thế vững chắc trên thò trường
trái cây EU .
Chúng ta cần phải đưa ra các giải pháp đồng bộ, hợp lý để nâng cao Năng
Lực Cạnh Tranh của mặt hàng trái cây nhiệt đới Việt Nam trên thò trường EU nhằm
đưa mặt hàng trái cây Việt Nam vươn tới tầm cao mới, xứng đáng với vò thế là một
trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong ngành nông nghiệp.
Quan điểm và mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đề tài một cách khoa học, toàn diện trên cơ sở quán triệt tư tưởng,
đònh hướng vó mô (chính phủ, nhà nước), đồng thời phải đảm bảo tính thực tế trên
cơ sở so sánh đối chiếu kinh nghiệm của các các quốc gia trong vùng .


35



Mục đích nghiên cứu :
¾ Nghiên cứu mơ hình lý thuyết để tìm ra các yếu tố chính của năng lực cạnh tranh .
¾ Xây dựng các thành phần năng lực cạnh tranh mặt hàng trái cây
¾ Khảo sát, đánh giá, dự đoán thò trường trái cây EU đặc biệt chú trọng thò
trường trái cây nhiệt đới .
¾ Phân tích tình hình SXKD ngành sản xuất, chế biến, xuất khẩu trái cây Việt
Nam và đánh giá năng lực cạnh tranh của mặt hàng trái cây Việt Nam từ đó đưa ra
các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng trái cây giai đoạn
2006-2015 sang thò trường EU .
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mặt hàng trái cây nhiệt đới Việt Nam và
các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh mặt hàng trái cây .
Đối với phạm vi nghiên cứu trong nước, chúng tôi tập trung khảo sát tại vùng
đồng bằng Sông Cửu Long-một vùng cây ăn trái lớn nhất cả nước để từ đó khái quát
chung cho tình hình phát triển cây ăn quả tại Việt Nam.
Thò trường nghiên cứu mục tiêu : thò trường trái cây EU.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp quy nạp và diễn dòch nhằm nêu ra những nhận đònh chung về thò
trường trái cây EU, tình hình sản xuất trái cây hàng hóa từ những dữ liệu phân tích,
khảo sát riêng biệt cũng như để phân tích rõ vấn đề từ những nhận đònh tổng quát.
+ Nghiên cứu sơ bộ: Được thực hiện thơng qua phương pháp nghiên cứu định tính,
sử dụng kỹ thuật thảo luận tay đơi nhằm bổ sung mơ hình thang đo năng lực cạnh tranh
của mặt hàng trái cây
+ Nghiên cứu chính thức : Được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định
lượng, thơng qua kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp khách hàng với việc trả lời bảng câu hỏi
đánh giá về năng lực cạnh tranh của mặt hàng trái cây
+ Sử dụng phương pháp phân tích trên SPSS 10.0


36



+ Ngồi ra nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp so sánh, thống kê tốn, phân
tích tổng hợp
+ Việc nghiên cứu, khảo sát thò trường quốc tế rất phức tạp do đó chúng tôi cố gắng
sử dụng phương pháp mô hình hóa bằng những bảng biểu, số liệu
5 Những kết quả chính của luận văn .
Luận văn đã đạt được những kết quả sau:
1-Chương 1: Nghiên cứu lý thuyết về năng lực cạnh tranh .Đồng thời, xây dựng
các nhân tố cấu thành, tác động tới năng lực cạnh tranh của mặt hàng trái cây .
2- Chương 2: Đi vào phân tích năng lực cạnh tranh trái cây của Việt Nam đến
năm 2005 để từ đó nhận biết những điểm mạnh, điểm hạn chế cần tác động để nâng
cao năng lực cạnh tranh mặt hàng trái cây Việt Nam từ nay đến 2015.
3- Chương 3: Trên cơ sở phân tích ở chương 1 và chương 2, đề ra các giải pháp
cho việc nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh của mặt hàng trái cây Việt Nam.
Luận văn còn có các kiến nghò với Nhà nước và các bộ ngành để nhanh chóng đưa
ra các giải pháp chiến lược trong phát triển ngành sản xuất, chế biến, xuất khẩu
trái cây Việt Nam sang thò trường EU.














37




Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH MẶT HÀNG TRÁI CÂY

1 .1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Chiến lược sản xuất hướng về xuất khẩu đang là một trong những chiến lược
điển hình phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Do đó, trên thò trường thế
giới tất yếu sẽ diễn ra sự cạnh tranh trong xuất khẩu. Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt
nhằm chiếm lónh thò trường, thu được lợi nhuận tối ưu cho mỗi doanh nghiệp từ nhiều
quốc gia khác nhau. Cạnh tranh còn diễn ra giữa những công ty xuyên quốc gia hùng
mạnh về tài chính, về khả năng marketing, đa dạng hóa sản phẩm
Cạnh tranh là điều tất yếu của quy luật kinh tế thò trường, là đặc trưng của nền
sản xuất hàng hóa, là một yếu tố thúc đẩy sự đi lên của cả nền kinh tế. Còn đối với
các doanh nghiệp khi chấp nhận cạnh tranh là chấp nhận những thử thách của thò
trường buộc phải đưa ra những đối sách linh hoạt nhằm nâng cao Năng Lực Cạnh
Tranh của sản phẩm hàng hóa, đáp ứng những nhu cầu đa dạng của khách hàng và
đạt được những mục tiêu đề ra cho doanh nghiệp mình. Trong xu thế thò trường hiện
nay, cạnh tranh gay gắt hơn nhưng vẫn chứa đựng yếu tố tích cực của nó khi xuất
hiện xu thế mới “hợp tác trong cạnh tranh, cạnh tranh trong hợp tác”.
Ngoài ra, năng lực cạnh tranh liên quan trực tiếp đến quyết đònh mua hàng của
người mua. Thông thường người mua thường hướng vào những yếu tố phù hợp với
sở thích, điều kiện, hoàn cảnh sử dụng. Khách hàng thường quan tâm đến các yếu
tố như : chất lượng, sở thích, giá, khả năng phục vụ , uy tín của mặt hàng, nơi cung
cấp sản phẩm.



38




¾ Theo David Mercer, chuyên gia marketing : năng lực cạnh tranh được
hình thành bởi 4 cạnh hình thành nên “Năng lực kim cương
Bảng 1.1 : Năng lực kim cương “[41, trang 490 ]

Lợi thế về quy

Vò thế
trên thò
trường
Sàn phầm/dòch
vụ
Năng lực kim
cương




Khác biệt
hóa



Đầu tư vào nhãn

Năng lực cạnh tranh (NLCT) của hàng hóa là khả năng bán được nhanh
chóng hàng hóa khi trên thò trường có nhiều người cùng bán hàng hóa đó. Năng lực
cạnh tranh của một sản phẩm là sự thể hiện thơng qua các lợi thế so sánh đối với sản
phẩm cùng loại. [14, trang 48 ]. Lợi thế so sánh của một sản phẩm bao hàm các yếu tố
bên trong và bên ngồi tạo nên, như năng lực sản xuất, chi phí sản xuất, chất lượng sản
phẩm, dung lượng thị trường của sản phẩm, nhãn hiệu Còn nếu so sánh với sản
phẩm cùng loại nhập khẩu thì yếu tố lợi thế được thể hiện cơ bản qua giá bán sản
phẩm, chất lượng của sản phẩm và một phần khơng nhỏ là tâm lí tiêu dùng .
Như vậy có thể thấy, khái niệm NLCT là một khái niệm động, được cấu thành bởi
nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả mơi trường vi mơ và vĩ mơ. Một sản phẩm có
thể năm nay được đánh giá là có năng lực cạnh tranh, nhưng năm sau, hoặc năm sau nữa
lại khơng còn khả năng cạnh tranh nếu khơng giữ được các yếu tố lợi thế.



39




1.1.2 Các yếu tố cấu thành Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm / dòch vụ bao gồm 6 thành phần cơ bản
[14, trang 52 ], đó là:
• Chất lượng : Chất lượng là yếu tố hàng đầu của NLCT. Người mua ngày
nay có xu hướng lựa chọn hàng hóa có chất lượng cao hơn là hàng hoá giá rẻ. Hàng
hoá có chất lượng trang trí cao, kiểu dáng hiện đại, màu sắc phù hợp thò hiếu …. sẽ
hấp dẫn khách hàng và được lựa chọn. Những hàng hoá tiêu dùng dài ngày, thiết bò
máy móc thì sự ưu việt của các tính năng, độ tin cậy, tiện nghi sử dụng là những
yếu tố quyết đònh. Muốn thu hút được khách hàng thì hàng hóa phải có trình độ kỹ
thuật cao, chế tạo theo công nghệ tiến. Do đó, muốn nâng cao NLCT của hàng hoá
thì phải đổi mới công nghệ, hiện đại hóa sản xuất.
• Gía : Gía cả là yếu tố có sự lôi cuốn người mua. Gía hạ không phải là
quyết đònh. Cái quyết đònh là tương quan hợp lý của giá với chất lượng. Người mua
thường có khuynh hướng so sánh giá hàng hoá trên thò trường. Để tranh thủ người
mua, các hãng còn áp dụng các hình thức thanh toán linh hoạt : bán chòu, bán trả
góp
• Chi phí sử dụng : Đối với hàng hóa sử dụng dài ngày thì chi phí sử dụng
là yếu tố rất quan trọng. Chi phí sử dụng thường là chi phí cho tiêu tốn năng lượng,
nhiên liệu, vật liệu kỹ thuật (dầu bôi trơn, mỡ ), chi phí cho người vận hành, chi
phí bảo dưỡng, duy tu …
• Phục vụ kỹ thuật khi bán và sau bán . Để tạo thuận lợi và lôi cuốn
người mua, người bán cung cấp những dòch vụ miễn phí hoặc phí thấp như mang
hàng đến tận nơi, lắp đặt …. Đó là phục vụ kỹ thuật khi bán. Phục vụ kỹ thuật sau
khi bán là bảo hành, cung cấp phụ tùng, tổ chức sửa chữa …


40



• Quảng cáo : Quảng cáo là yếu tố quan trọng để thu hút, lôi cuốn khách
hàng, ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng bán hàng. Nhưng không thể lấy quảng
cáo để thay thế các yếu tố khác được. Muốn giữ danh tiếng của hãng thì quảng cáo
phải trung thực.
• Danh tiếng của hãng, của nhãn hiệu : Những nhãn hiệu đã nổi tiếng thường
dễ tiêu thụ, sức cạnh tranh cao hơn những nhãn hiệu mới, chưa có tiếng tăm gì.
Chính vì vậy mà việc giữ gìn tín nhiệm với khách hàng là rất quan trọng. Một số
sản phẩm xấu có thể làm mất đi một nhãn hiệu đã nổi tiếng .
1.2 Năng lực cạnh tranh mặt hàng trái cây.
1.2.1. Các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của mặt hàng trái cây
Để tìm hiểu các yếu tố cấu thành Năng lực cạnh tranh ( NLCT) của mặt hàng
trái cây, nghiên cứu được thực hiện qua hai bước chính là nghiên cứu sơ bộ và
nghiên cứu chính thức :
+ Nghiên cứu sơ bộ: Được thực hiện thơng qua phương pháp nghiên cứu định
tính, sử dụng kỹ thuật thảo luận nhóm và tay đơi nhằm bổ sung năng lực cạnh tranh
của mặt hàng trái cây và các yếu tố cấu thành năng lực cạnh trạnh của mặt hàng
này .
Khảo sát sơ bộ được tiến hành nghiên cứu 30 người tiêu dùng, chuyên gia
công tác trong lónh vực kinh doanh, chế biến, nghiên cứu trái cây. Nghiên cứu này
được thực hiện tại TP. HCM trong tháng 7/2005. Kết quả là có 5 yếu tố bò loại bỏ.
Cơ sở để loại bỏ là hầu hết những người được phỏng vấn đều cho rằng chúng không
quan trọng đối với họ hoặc họ không hề quan tâm tới (phụ lục 1.2 ).
+ Nghiên cứu chính thức: Được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định
lượng, thơng qua kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp khách hàng với việc trả lời bảng câu hỏi
đánh giá về năng lực cạnh tranh của trái cây. Nghiên cứu này được thực hiện tại
TPHCM và thành phố Lille (Pháp) vào tháng 8 và 9/2005.


41



Trong 60 khách hàng được phỏng vấn có 54 người Việt Nam (chiếm 90 %), 6
người nước ngoài (chiếm 10 %). Về giới tính, có 36 khách hàng được phỏng vấn là
nữ (chiếm 60%), 24 khách hàng được phỏng vấn là nam chiếm 40%. Sau đó, sử
dụng phần mềm SPSS 10.0 để phân tích số liệu, khảo sát các nhân tố hình thành
nên năng lực cạnh tranh của mặt hàng trái cây .Kết quả thu được cho thấy : chất
lượng sản phẩm và hoạt động Marketing ( Gíá , hoạt động yểm trợ , nhãn hiệu ,
phương thức phân phối ) cùng với nguồn nhân lực hoạt động trong lónh vực sản
xuất , chế biến , xuất khẩu trái cây là những nhân tố chính tạïo nâng cao năng lực
cạnh tranh mặt hàng trái cây của Việt Nam .
Bảng 1.2 : Các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh mặt hàng trái cây [Phụ lục
1.5]
Biến quan sát Trung bình Độ lệch chuẩn Ghi chú
Chất lượng 3.88 1.04
Gía 3.98 1.24
Yểm trợ 3.98 1.27
Nhãn hiệu 3.08 0.77
Phân phối 3.52 1.27
Nhân lực 3.6 1.09
Bảo hộ của chính
phủ
2.28 0.98 Loại biến do trọng
số thấp .

Kết quả phân tích trên dựa trên kết quả tính trung bình >= 3 trên mức thang điểm 5
. Yếu tố « Bảo hộ của chính phủ » có trọng số 2.28 thấp hơn mức trung bình nên bò
loại ra .
Ngoài ra, thông qua khảo sát với hệ số tin cậy khá cao 0.8912 về các nhân tố
tác động tới chất lượng mặt hàng trái cây ( vốn khá trừu tượng ), kết quả thể hiện
trong bảng 1.3 . Phương pháp trích hệ số sử dụng trong phân tích này là principal
axis factoring với phép quay promax và điểm dừng khi trích các yếu tố có
eigenvalue là 1. Tiêu chuẩn để chấp nhận các biến đo lường là chúng phải có trọng


42



số ( factor loading) từ 0,4 trở lên và thang đo được chấp nhận khi khi tổng phương sai
trích bằng hoặc lớn hơn 50%.
Bảng 1.3 : Kết quả EFA của thang đo các yếu tố ảnh hường tới chất lượng trái
cây [ phụ lục 1.4 ]
Biến quan sát Yếu tố
v-02(Giống)
.877
v_03(Thua mua , vân chuyển )
.765
v_04(Công nghệ sau thu hoạch)
.883
v_08(Qúa trình xuất khẩu)
.763
Eigenvalue 3.02
Phương sai trích 67.85%
Cronbach alpha 0,8912
Với thang đo chất lượng mặt hàng trái cây , EFA trích được 1 yếu tố tại
eigenvalue là 3,02 ; phương sai trích được là 67,85 % và các trọng số của các biến
đều cao (xem Bảng 1.3). Do vậy, các biến quan sát này được sử dụng để đo lường
phân tích chất lượng mật hàng trái cây và cho các phân tích tiếp theo.
1.2.2 Kinh Nghiệm Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Mặt Hàng Trái Cây Nhiệt
Đới Của một số quốc gia trong khu vực
Luận văn tiến hành khảo sát kinh nghiệm sản xuất, xuất khẩu trái cây thương
phẩm tại hai quốc gia Thái Lan và Malaysia vì hai quốc gia trên đạt được thành
công trong việc sản xuất, xuất khẩu trái cây thương phẩm, nâng cao vò thế cạnh
tranh trên thò trường thế giới nói chung, thò trường trái cây EU nói riêng. Ngoài ra,
Thái Lan và Malaysia có điều kiện khí hậu,thổ nhưỡng tương đồng với Việt Nam .
Từ đó, giúp Việt Nam học hỏi kinh nghiệm, đồng thời đưa ra các đối sách thích
hợp trong phân tích các đối thủ cạnh tranh trên thò trường trái cây EU .
1.2.2.1 Kinh Nghiệm của Thái Lan
1.2 .2.1.1 Tình hình sản xuất


43



Chính phủ Thái Lan đề ra chiến lược lâu dài, ưu tiên xuất khẩu quả, trong đó
phát động chương trình đa dạng hóa cây trồng, đặc biệt là chú trọng các chương
trình tập trung cho nghiên cứu, phát triển các loại cây quý hiếm đạt năng suất cao,
chất lượng tốt và có triển vọng xuất khẩu. Thái Lan đề ra mục tiêu tăng trưởng sản
xuất quả hàng năm là 4%/năm .Do vậy, diện tích cây ăn quả tăng nhanh chóng và
đạt diện tích 989400 ha, sản lượng 5,5triệu tấn trong đó 80 - 90% sản lượng dùng
cho tiêu thụ trong nước và 10-20% sản lượng để xuất khẩu bao gồm 36 chủng loại
(không kể dứa, dừa, cà phê và cây cọ dầu) [33], trong đó có 20 loài cây có mục đích
thương mại.
Sự phân bố của cây ăn trái dựa vào sự thích nghi khí hậu từng vùng:Vùng đồng
bằng, miền Trung: cây nhiệt đới.Vùng thấp ở các tỉnh phía Bắc (Chiêng Mai,
Chiêng Rai, ): cây ăn quả Á nhiệt đới (vải, nhãn, cam) và một số cây nhiệt đới như
xoài, bưởi.Vùng cao, các tỉnh phía Bắc (lớn hơn 1000m so với mực nước biển: cây
ôn đới như đào, mận, táo tây, mơ Nhật Bản, hồng,.). Vùng đất ven biển xung quanh
vònh Thái Lan: trồng dứa và tại đây có nhiều nhà máy đồ hộp dứa. Các tỉnh miền
Đông và miền Nam có khí hậu nhiệt đới ấm: sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bon
bon, dâu da.Vùng nhiệt đới khô: me chua, me ngọt, na, đào, Xoài trồng ở các tỉnh
phía Bắc.
Qua sự phân bố trái cây như trên, ta nhận thấy tính hợp lý trong phân bố, quy
hoạch phát triển cây ăn trái ở Thái Lan nhằm tận dụng tối đa điều kiện tự nhiên
từng vùng tạo điều kiện phát triển cây ăn trái hàng hóa, khai thác tối đa năng suất
sản lượng, chất lượng trái cây .
1.2. 2.1.2 Tình hình xuất khẩu trái cây hàng hóa
Ngày nay, Thái Lan là một trong những quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới về
cây ăn trái. Ngoài ra, Thái Lan là quốc gia xuất khẩu lớn hàng đầu thế giới về dứa
và các mặt hàng dứa chế biến. Trong những năm qua, sự phát triển của ngành rau
quả xuất khẩu phù hợp với xu thế phát triển chung của nền kinh tế Thái Lan : hướng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét