Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014
482 Những giải pháp hoàn thiện quản lý ngân sách Tp. Cần Thơ
5
3.7.1. Tăng cường thanh, kiểm tra khâu lập dự toán thu, chi ngân sách 72
3.7.2. Cải tiến khâu thanh, kiểm tra quá trình chấp hành ngân sách 73
3.7.3. Đổi mới trong khâu thanh, kiểm tra sau khi cấp phát ngân sách 73
3.7.4. p dụng đa dạng các hình thức kiểm tra linh hoạt và hiệu quả 73
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
6
MỞ ĐẦU
Ở nước ta, việc quản lý NSNN từng bước được hoàn thiện kể từ sau khi có
luật NSNN (20/03/1996), sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh luật NSNN (20/05/1998)
và sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh luật NSNN (16/12/2002) bắt đầu thực hiện từ
01/01/2004, cùng với việc liên tục triển khai các Nghò đònh, Thông tư hướng dẫn
thi hành luật NSNN đã tạo ra sự thay đổi một cách căn bản về cơ chế quản lý,
đảm bảo sự chủ đạo của NSTW, đồng thời phát huy tính năng động, tự chủ, tự
chòu trách nhiệm của các cấp chính quyền đòa phương trong quản lý thu và chi
NSNN.
Một trong những vấn đề quan trọng cần thiết hiện nay là việc hoàn thiện
quản lý chi NSNN phải được quan tâm hàng đầu. Vì nếu xem xét một cách
khách quan thì việc quản lý thu NSNN đã từng bước được quan tâm điều chỉnh,
hoàn thiện chính sách thu cho phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế và
tiến trình hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế. Ngược lại, việc quản lý chi NSNN
thì cả xã hội quan tâm bức xúc tình trạng cấp phát sử dụng NSNN thời gian qua
dàn trãi, kém hiệu quả, lãng phí, tham ô, tham nhũng, biển thủ tiền và tài sản
công còn chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Vì vậy, muốn lành mạnh hóa nền
tài chính quốc gia đặt ra cho chúng ta một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách là
phải hoàn thiện quản lý chi NSNN, đảm bảo hiệu quả chi NSNN phục vụ tốt cho
quá trình phát triển kinh tế xã hội đất nước.
Không ngoại lệ, việc quản lý chi NSNN ở TP Cần Thơ có nhiều tiến bộ
tích cực theo đònh hướng hiệu quả. Song bên cạnh đó cũng còn rất nhiều bất cập,
có những vấn đề chủ quan và khách quan của thực trạng việc quản lý quá trình
lập, chấp hành và quyết toán chi NSNN ở TP Cần Thơ trong thời gian qua, dẫn
đến việc quản lý chi NSNN ở TP Cần Thơ chưa đạt hiệu quả cao như mong
7
muốn. Cần có giải pháp quản lý chi NSNN ở TP Cần Thơ tích cực và hiệu quả
hơn, thực hiện mục tiêu đến năm 2010 TP Cần Thơ đạt các chuẩn cơ bản của đô
thò loại I (theo nghò quyết của Thành ủy TP Cần Thơ), đồng thời là một trung
tâm kinh tế động lực của vùng ĐBSCL (theo nghò quyết của Bộ Chính trò).
Từ những vấn đề nêu trên, nội dung của đề tài nhằm vào việc xác lập cơ
sở lý luận, thực tiễn và giải pháp khoa học, hợp lý cho việc hoàn thiện quản lý
chi NSNN ở TP Cần Thơ trong thời gian tới .
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các chủ trương, chính
sách, đường lối của Đảng và Nhà nước, các Luật đònh, đònh chế tài chính hiện
hành; cơ sở lý thuyết về khoa học quản lý; đặc điểm tình hình, thực trạng quản
lý chi NSNN ở đòa phương trong thời gian qua; các giải pháp khả thi khoa học
trong phạm vi chi NSNN có quan hệ với cân đối NSNN ở TP Cần Thơ.
Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Sử dụng phương pháp nghiên
cứu, phân tích tài liệu, số liệu học tập ở trường và trong thực tiễn có liên quan
đến đề tài, kết hợp với việc sử dụng các phương pháp khác như: Xin ý kiến, học
tập kinh nghiệm của Thầy, cô, chuyên gia quản lý NSNN. Tập hợp thông tin
xem xét và xử lý qua phân tích đònh tính, đònh lượng phục vụ cho các phần nội
dung của đề tài.
Nội dung của đề tài: Các phần chính được thể hiện qua các chương sau:
Chương I: NSNN và quản lý chi NSNN.
Chương II: thực trạng quản lý chi NSNN của TP Cần Thơ trong thời gian qua.
Chương III: Những giải pháp hoàn thiện quản lý chi ngân sách TP Cần Thơ.
8
CHƯƠNG I: NSNN VÀ QUẢN LÝ CHI NSNN
1.1. TỔNG QUAN VỀ NSNN
1.1.1. Bản chất của NSNN
1.1.1.1. Khái niệm
Khái niệm về NSNN hiện nay còn có nhiều ý kiến khác nhau. Thuật ngữ
ngân sách (Budget) bắt nguồn từ tiếng Anh, có nghóa là cái ví, cái xắc. Tuy
nhiên trong đời sống kinh tế, thuật ngữ này đã thoát ly ý nghóa ban đầu và mang
nội dung hoàn toàn mới. Khái niệm Ngân sách theo các quan điểm khác nhau
như:
Theo từ điển bách khoa toàn thư Liên xô (cũ) cho rằng: Ngân sách là
bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất đònh của Nhà
nước; Mọi kế hoạch thu chi bằng tiền của bất kỳ một xí nghiệp, cơ quan, hoặc
cá nhân nào trong một giai đoạn nhất đònh.
(Sđd, NXB bách khoa toàn thư Liên xô.1971, T. IV tr.195)
Theo từ điển Nouveau Larousse của Pháp thì: Ngân sách là bảng liệt kê,
dự kiến các khoản thu nhập và chi trả của một cơ quan, một công xã, vv…
(Sđd, NXB Librairie Larousse, Paris,1972, tr.144)
Theo Từ điển kinh doanh nước Anh, do J.H. Adam biên tập giải thích
thuật ngữ Ngân sách như sau:
Bảng kế toán về khả năng thu nhập (tiền thu vào) và chi tiêu (tiền xuất
ra) trong một giai đoạn nhất đònh của tương lai, thường là một năm;
NSNN là bảng kế hoạch về thu nhập và chi tiêu quốc gia (nhà nước) trong
tương lai. Nó được ông Quốc khố đại thần trình ra trước Nghò viện một lần trong
năm, được Nghò viện xem xét và có những đề xuất thay đổi thuế khóa, những
vấn đề đó sau này trở thành luật trong năm Tài chính;
9
Bảng tính toán về khả năng chi phí để thực hiện một kế hoạch hoặc một
chương trình vì một đích nhất đònh nào đó (Ngân sách quảng cáo, Ngân sách đầu
tư, Ngân sách nghiên cứu).
(J.H.Adam Longman Dictionary of Bussiness English, NXB Librairie du Liban,
1982)
Theo GS.TS Tào Hữu Phùng và GS.TS Nguyễn Công Nghiệp thì:
NSNN là dự toán (kế hoạch) thu-chi bằng tiền của Nhà nước trong một
khoảng thời gian nhất đònh (phổ biến là một năm).
(Đổi mới NSNN – NXB Thống kê – Hà nội 1992, tr.7)
Theo Luật NSNN của nước Cộng hoà xã hội chủ nghóa Việt Nam ban hành
ngày 16/12/2002 thì NSNN có khái niệm sau:
NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết đònh và được thực hiện trong một năm để bảo đảm
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
1.1.1.2. Nội dung kinh tế của NSNN
Mặc dù các biểu hiện của NSNN rất đa dạng và phong phú, nhưng về
thực chất chúng đều phản ánh các nội dung KT – XH cơ bản là:
NSNN hoạt động trong lónh vực phân phối các nguồn tài chính của xã hội
và vì vậy, nó thể hiện các mối quan hệ về lợi ích kinh tế đa diện giữa Nhà nước
và xã hội.
Quyền lực trong phân phối các nguồn lực đó thuộc về Nhà nước. Mọi
khoản thu và chi NSNN đều do Nhà nước quyết đònh và nhằm mục đích phục vụ
yêu cầu thực hiện các chức năng của Nhà nước.
Vì vậy, nội dung kinh tế của NSNN theo GS.TS Tào Hữu Phùng và
PGS.TS Nguyễn Công Nghiệp :
10
NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát
sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm
đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế-xã
hội của mình.
(Đổi mới NSNN – NXB Thống kê – Hà nội 1992, tr.11)
Theo GS.TS Nguyễn Thanh Tuyền thì :
NSNN là tổng thể các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân
phối các nguồn lực tài chính, hình thành quỹ tiền tệ tập trung, nhằm thực hiện
các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước đương quyền trong một thời kỳ nhất
đònh.
(Tài liệu học môn Tài chính công)
Hai đònh nghóa trên, tuy có những khác biệt nhất đònh song nó đã phải ảnh
đầy đủ nội dung kinh tế – xã hội của NSNN cũng như vai trò là một công cụ
kinh tế tất yếu của nhà nước.
1.1.2. Chức năng của NSNN
NSNN là một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống tài chính và đóng vai
trò chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia. Vì vậy, NSNN cũng có đầy đủ hai
chức năng của tài chính là chức năng phân phối và chức năng giám đốc.
Chức năng phân phối của NSNN thể hiện qua quá trình phân phối tổng
sản phẩm xã hội để hình thành quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước và
đảm bảo các nhu cầu chi tiêu theo dự toán của Nhà nước. Chức năng phân phối
của NSNN thể hiện đầy đủ cả quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại mà
chủ thể phân phối là Nhà nước, nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý
và điều hành nền kinh tế-xã hội của Nhà nước. Quá trình phân phối lần đầu của
NSNN là quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính từ xã hội để hình
thành NSNN, cũng chính là quá trình thu NSNN. Quá trình phân phối lại của
11
NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng NSNN nhằm đảm bảo các nhu cầu chi tiêu
của Nhà nước, cũng chính là quá trình chi NSNN phục vụ cho việc quản lý và
điều hành nền kinh tế-xã hội của Nhà nước.
Chức năng giám đốc (kiểm tra) của NSNN thể hiện qua việc Nhà nước
thực hiện chức năng giám đốc bằng đồng tiền đối với mọi hoạt động trong nền
kinh tế. Quá trình huy động và sử dụng NSNN phải được thực hiện bằng luật
pháp, vì vậy phải được theo dõi, quản lý, giám sát, kiểm tra chặt chẽ bằng đồng
tiền theo những đònh chế, chuẩn mực đã được Nhà nước quy đònh. Chức năng
giám đốc của NSNN hình thành trong quá trình Nhà nước huy động, tập trung,
phân phối và sử dụng nguồn vốn NSNN. Nhà nước thực hiện sự giám sát hoạt
động của các chủ thể trong nền kinh tế-xã hội thông qua các khoản thu, chi
NSNN bằng tiền. Thông qua chức năng giám đốc, Nhà nước tác động vào quá
trình quản lý vó mô nền kinh tế-xã hội. Chức năng giám đốc của NSNN giúp cho
hiệu quả thực hiện NSNN được tốt hơn.
Ngoài hai chức năng nêu trên, NSNN còn có hai chức năng cụ thể là:
Chức năng tổ chức vốn và chức năng điều chỉnh quá trình kinh tế được thể hiện
qua vai trò của NSNN.
1.1.3. Vai trò của NSNN
Vai trò của NSNN được xác đònh trên cơ sở các chức năng của NSNN và
trên cơ sở các nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn lòch sử. Do vậy, vai
trò của NSNN trong giai đoạn hiện nay như sau:
NSNN với vai trò theo chức năng của NSNN là huy động nguồn tài chính
để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Đồng thời, NSNN thực hiện cân
đối giữa các khoản thu và các khoản chi (bằng tiền) của Nhà nước.
Vai trò của NSNN biểu hiện qua việc NSNN động viên các nguồn lực hữu
hình và vô hình bao gồm:
12
- Các nguồn lực hữu hình trong nước như các nguồn vốn bằng tiền hoặc
đang ở dạng luân chuyển (Vốn lưu động, vốn cố đònh trong doanh nghiệp, vốn
luân chuyển trên thò trường tài chính) phát triển cuối cùng là doanh lợi tăng thu
thuế, phí hoặc đang ở dạng tích luỹ (Dự trử quốc gia, dự trử bắt buộc, quỹ dự
phòng) cho vay để phát triển và huy động các nguồn lực ở nước ngoài qua việc
huy động các nguồn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (BOT, BTO, BT) mà chúng
ta có thể nhận dạng được; Động viên các nguồn tài chính vô hình là các nguồn
tài chính ở dạng tiềm ẩn khó nhận dạng nhưng nó có tác động gián tiếp đến việc
gia tăng nguồn lực tài chính quốc gia một cách hiệu quả và bền vững (Độc
quyền thương hiệu, sở hữu công nghiệp, phần mềm tin học, phát triển Giáo dục
và đào tạo, uy tín cá nhân, chính sách đúng đắn và kòp thời, khai thác các di tích
lòch sử, chống tham nhũng, sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay nước ngoài, đầu tư
mạo hiểm, quan hệ hữu hảo với các nước).
- Bảo đảm các nhu cầu chi tiêu để phát triển kinh tế-xã hội phục vụ quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Điều hoà các nguồn vốn giữa các vùng và các ngành kinh tế.
- Tài trợ đối với các tổ chức kinh tế.
Mặt khác, NSNN là công cụ quan trọng của Nhà nước và nền kinh tế thò
trường cần thiết phải có sự điều chỉnh vó mô từ phía Nhà nước. Vì vậy, NSNN có
vai trò là công cụ điều chỉnh vó mô nền kinh tế xã hội theo đònh hướng của Nhà
nước. Có thể khái quát vai trò của NSNN trong các lónh vực kinh tế-xã hội, thò
trường như sau:
Về mặt Kinh tế: NSNN phải là công cụ đắc lực của Nhà nước trong việc
đònh hướng, điều chỉnh hình thành cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý, hiệu quả
hơn. NSNN góp phần quan trọng trong việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tạo
động lực phát triển kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi phát triển sản
13
xuất kinh doanh của nền kinh tế nhiều thành phần, giữ cho nền kinh tế cạnh
tranh lành mạnh, tích cực chống độc quyền, đầu cơ. Đồng thời, khắc phục những
khuyết tật của cơ chế thò trường và hổ trợ cho sự phát triển của các thành phần
kinh tế trong những trường hợp cần thiết.
Về mặt xã hội: NSNN là công cụ đắc lực của Nhà nước trong việc giải
quyết tất cả các vấn đề mặt xã hội như điều tiết thu nhập của người thu nhập
cao, thông qua quá trình phân phối và phân phối lại của NSNN để người có thu
nhập thấp cũng được hưỡng lợi, hạn chế tốc độ phân hóa giàu nghèo trong xã
hội, hướng dẫn tiêu dùng của xã hội, giải quyết các nhu cầu chính sách xã hội về
phổ cập giáo dục, sức khoẻ cộng đồng, đời sống tinh thần, lao động tiền lương,
đền ơn đáp nghóa, xóa đói giảm nghèo, chống tiêu cực, tệ nạn xã hội Tạo môi
trường xã hội lành mạnh đậm đà bản sắc dân tộc và văn minh.
Về mặt thò trường: NSNN có vai trò rất quan trọng trong việc bình ổn giá
cả thò trường theo hướng tích cực, chống lạm phát tiêu cực, tạo môi trường cạnh
tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thò trường, tạo
điều kiện tiền đề phát triển thò trường, cũng như tham gia điều tiết, điều chỉnh
những mặt tiêu cực của thò trường. Thúc đẩy sự phát triển mối quan hệ hàng-tiền
trong nước và quốc tế.
1.2. TỔ CHỨC HỆ THỐNG NSNN VÀ PHÂN CẤP NSNN
1.2.1. Nguyên tắc tổ chức hệ thống NSNN
Tổ chức hệ thống NSNN căn cứ vào Hiến pháp nước CHXHCNVN, Luật
NSNN, luật pháp hiện hành và theo yêu cầu của từng thời kỳ phát triển của đất
nước. Mỗi cấp chính quyền nhà nước theo quy đònh của Hiến pháp được phân
đònh rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm. Vì vậy, mỗi cấp
chính quyền phải có một ngân sách tương ứng để đảm bảo chủ động hoàn thành
chức năng, nhiệm vụ của mình. Vì vậy, hiện nay mỗi cấp chính quyền có một
14
ngân sách trong hệ thống NSNN và có thể phân cấp, phân quyền quản lý theo
yêu cầu phát triển của từng thời kỳ.
Nguyên tắc tổ chức hệ thống NSNN dựa trên hai nguyên tắc chủ yếu sau:
Nguyên tắc thống nhất: thể hiện qua hệ thống NSNN ở nước ta là một
hệ thống thống nhất từ trung ương đến đòa phương thống nhất về chủ trương
đường lối chính sách, những qui đònh của Nhà nước về quản lý, tổ chức điều
hành, cũng như về các chế độ, đònh chế tài chính.
Nguyên tắc thống nhất của NSNN yêu cầu mọi nguồn thu và mọi khoản
chi của NSNN đều phải phản ảnh tập trung đầy đủ và trọn vẹn vào NSNN. Tất
cả các cơ quan, đơn vò khi thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao, nếu phát sinh các
khoản thu và chi liên quan đến các hoạt động của mình thì đều phải đặt trong hệ
thống NSNN.
Nguyên tắc thống nhất của NSNN còn thể hiện ở việc ban hành hệ thống
chế độ thu, chi và các tiêu chuẩn đònh mức thống nhất trong toàn quốc. Mọi
hoạt động thu, chi ngân sách phục vụ cho các hoạt động chức năng của Nhà
nước đều phải thực hiện theo những quy đònh, chuẩn mực và thủ tục thống nhất
chung do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết đònh. Ngoài ra không đơn vò,
cá nhân nào được tự ý đặt ra những chế độ, đònh mức thu chi khác với những quy
đònh chung của nhà nước. Các quy đònh về trình tự, nội dung, thời gian lập, phê
duyệt, chấp hành và quyết toán NSNN cũng phải được quy đònh nghiêm ngặt, rõ
ràng và thống nhất trong toàn quốc.
NSNN chỉ tồn tại một hệ thống Ngân sách thống nhất của nhà nước. Yêu
cầu của nguyên tắc này là trong một quốc gia chỉ có một NSNN thống nhất.
Việc hình thành nhiều cấp NSNN từ trung ương đến đòa phương để phân cấp
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét