Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Chiến lược thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của công ty cổ phần sản xuất – thương mại may sài gòn sang thị trường mỹ đến năm 2015

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 5 GVHD: PGS-TS NGUYỄN VĂN LUÂN
1.1.2.1. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Adam Smith (1723 – 1790), nhà kinh tế chính trị cổ điển người Anh, là người đầu
tiên đưa ra sự phân tích có tính hệ thống về nguồn gốc thương mại quốc tế. Ông đã xây
dụng mô hình thương mại đơn giản dựa trên ý tưởng về lợi thế tuyệt đối để giải thích
thương mại quốc tế có lợi như thế nào đối với các quốc gia.
Theo ông, nếu quốc gia A có thể sản xuất mặt hàng X rẻ hơn so với quốc gia B và
quốc gia B có thể sản xuất mặt hàng Y rẻ hơn so với quốc gia A, thì lúc đó mỗi quốc gia
nên tập trung vào sản xuất mặt hàng mà mình có hiệu quả hơn và xuất khẩu mặt hàng
này sang quốc gia kia. Trong trường hợp này mỗi quốc gia được coi là có lợi thế tuyệt
đối về sản xuất từng mặt hàng cụ thể.
Lợi thế tuyệt đối có thể xuất phát từ các yếu tố về thời tiết, chất lượng và số lượng
đất đai, các nguồn tài nguyên thiên nhiên hay sự khác biệt về lực lượng lao động, vốn,
trình độ công nghệ. Vì sự khác biệt trong lợi thế tuyệt đối của từng nước, nên với điều
kiện thương mại tự do, mỗi nước sẽ đi sâu chuyên môn hóa từng mặt hàng mà mình có
lợi thế so với các nước khác. Như vậy nguồn lực sẽ được tập trung vào sản xuất sản
phẩm chuyên môn hóa đó một cách có hiệu quả. Nhờ vậy, các sản phẩm chuyên môn
hóa sẽ được sản xuất với quy mô lớn hơn dành cho xuất khẩu để tạo vốn cho nhập khẩu
những sản phẩm mà quốc gia đó sản xuất không có hiệu quả. Nhờ chuyên môn hóa sản
xuất và trao đổi mà cả hai quốc gia đều trở nên sung túc hơn.
1.1.2.2. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo
Lý thyết lợi thế so sánh được David Ricardo (1772 – 1823) đưa ra lần đầu tiên vào
năm 1817. Có thể phát biểu quy luật lợi thế so sánh như sau: “Một quốc gia sẽ xuất khẩu
những mặt hàng có giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc gia kia. Nói cách
khác, một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất với
hiệu quả cao hơn một cách tương đối so với quốc gia kia”.
Một cách cụ thể, quốc gia A sẽ xuất khẩu X khi và chỉ khi:
Chi phí lao động để sản xuất Chi phí lao động để sản xuất
SVTH: HOÀNG THỊ XUÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 6 GVHD: PGS-TS NGUYỄN VĂN LUÂN
1 đơn vị X ở A 1 đơn vị Y ở A
<
Chi phí lao động để sản xuất Chi phí lao động để sản xuất
1 đơn vị X ở B 1 đơn vị Y ở B
Lý thuyết này được xác định trên cơ sở chi phí tương đối, khi mà trình độ sản xuất
không đổi, các nước có thể tăng lợi ích từ thương mại quốc tế nhờ sự hợp tác và trao đổi
sản phẩm. Mô hình thương mại quốc tế dựa trên lợi thế so sánh tương đối nhấn mạnh
rằng một quốc gia sẽ có lợi nhờ vào thương mại quốc tế nếu chuyên môn hóa vào sản
xuất những sản phẩm mà nước đó có thể sản xuất có hiệu quả hơn việc sản xuất các sản
phẩm khác mà không cần phải xét đến lợi thế tuyệt đối.
Nhìn chung, các lý thuyết về lợi thế tuyệt đối và tương đối của một nước đều nhấn
mạnh tới yếu tố cung, coi quá trình sản xuất trong nước là yếu tố quy định hoạt động
thương mại quốc tế. Dựa vào các mô hình này, để thúc đẩy xuất khẩu, mỗi nước nên xác
định rõ các lợi thế tuyệt đối và tương đối của mình để từ đó tập trung nguồn lực có lợi
thế đó của đất nước vào việc chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm cho xuất khẩu. Việc
chuyên môn hóa sản xuất sẽ đem lại tác dụng như nâng cao chất lượng sản phẩm nhờ
vào trình độ chuyên môn hóa tay nghề lao động trong sản xuất, sản xuất với khối lượng
lớn. Từ đó, tăng được tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế.
Ứng dụng vào Việt Nam, dựa vào cơ sở lý luận của hai ông, Việt Nam sẽ thích hợp
trong việc tăng cường sản xuất các sản phẩm thô dựa vào điều kiện tự nhiên và các sản
phẩm sử dụng nguồn lao động dồi dào của đất nước, trong đó có sản xuất hàng dệt may.
1.1.2.3. Lý thuyết chi phí cơ hội của Gortfried Haberler
Theo lý thuyết chi phí cơ hội thì chi phí cơ hội của mặt hàng X là số lượng mặt
hàng Y cần được cắt giảm để sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa X. Trong hai quốc gia
thì quốc gia nào có chi phí cơ hội của X thấp hơn thì sẽ có lợi thế so sánh về mặt hàng
này.
Khác với mô hình của Ricardo trong đó từng quốc gia thực hiện chuyên môn hóa
hoàn toàn, mô hình thương mại mới đặc trưng bởi chuyên môn hóa không hoàn toàn;
SVTH: HOÀNG THỊ XUÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 7 GVHD: PGS-TS NGUYỄN VĂN LUÂN
mỗi quốc gia tiếp tục sản xuất cả hai mặt hàng, trong đó mặt hàng mà quốc gia có lợi thế
so sánh được sản xuất với số lượng nhiều hơn.
Như vậy, một quốc gia muốn xuất khẩu một mặt hàng có hiệu quả nhất, việc phân
tích cụ thể chi phí cơ hội cho xuất khẩu sản phẩm đóng vai trò quan trọng. Quốc gia đó
sẽ chuyên môn hóa sản xuất để xuất khẩu các sản phẩm có chi phí cơ hội thấp nhập khẩu
các sản phẩm có chi phí cơ hội cao.
1.1.2.4. Lý thuyết hàm lượng các yếu tố của Heckcher – Ohlin
Lý thuyết H – O được xây dựng trên hai khái niệm cơ bản là hàm lượng (hay mức
độ sử dụng) các yếu tố và mức độ dồi dào của các yếu tố.
Một mặt hàng được coi là sử dụng nhiều (một cách tương đối) lao động nếu tỷ lệ
giữa lao động và các yếu tố khác (như vốn hoặc đất đai) sử dụng để sản xuất ra một đơn
vị mặt hàng đó lớn hơn tỷ lệ tương ứng các yếu tố đó để sản xuất ra một đơn vị mặt hàng
thứ hai. Tương tự, nếu tỷ lệ vốn và các yếu tố khác là lớn hơn thì mặt hàng được coi là
có hàm lượng vốn cao.
Một quốc gia được coi là dồi dào tương đối về lao động (hay về vốn) nếu tỷ lệ giữa
lượng lao động (hay lượng vốn) và các yếu tố sản xuất khác của quốc gia đó lớn hơn tỷ
lệ tương ứng của các quốc gia khác.
Xuất phát từ các khái niệm cơ bản trên thì nội dung của lý thuyết H – O có thể
được tóm tắt như sau: “Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà việc sản xuất đòi
hỏi sử dụng nhiều một cách tương đối yếu tố sản xuất dồi dào của quốc gia đó”.
Học thuyết này đã cho thấy sự khác biệt về tính tương đối của các yếu tố. Điều này
rất quan trọng đối với Việt Nam bởi vì nước ta có lực lượng lao động dồi dào, giá nhân
công rẻ nhưng lại bị hạn chế về vốn. Với nền kinh tế nước ta hiện nay có thể áp dụng
học thuyết này để tập trung sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng sử dụng ít vốn, nhiều
lao động như hàng dệt may, hàng thủ công mỹ nghệ… nhằm đạt hiệu quả cao và làm
tăng kim ngạch xuất khẩu.
1.1.3 Vai trò của hoạt động xuất khẩu
1.1.3.1 Đối với nền kinh tế quốc dân
SVTH: HOÀNG THỊ XUÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 8 GVHD: PGS-TS NGUYỄN VĂN LUÂN
Xuất khẩu có vai trò cực kỳ quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển của nền
kinh tế. Điều đó thể hiện ở những điển cụ thể sau:
Thứ nhất, xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp
hóa đất nước.
Công nghiệp hóa đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu để
khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nước ta. Để công nghiệp hóa đất
nước trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn lớn để nhập khẩu máy móc thiết
bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các
nguồn như: xuất khẩu hàng hóa; đầu tư nước ngoài; vay nợ, viện trợ; thu từ hoạt động du
lịch, dịch vụ; xuất khẩu sức lao động…
Các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ… tuy quan trọng, nhưng
rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kỳ sau này. Nguồn vốn quan trọng
nhất để nhập khẩu, công nghiệp hóa đất nước là xuất khẩu. Xuất khẩu quyết định quy
mô và tốc độ tăng của nhập khẩu.
Trong tương lai, nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên. Nhưng mọi cơ hội đầu tư và vay
nợ của nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi khi các chủ đầu tư và người cho
vay thấy được khả năng xuất khẩu – nguồn vốn chủ yếu để trả nợ - trở thành hiện thực.
Thứ hai, xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản
xuất phát triển
Xuất khẩu có tác động tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển. Sự tác động này thể hiện ở chỗ:
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi. Chẳng
hạn, khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo cơ hội cho việc phát triển ngành sản
xuất nguyên phụ liệu như bông, sợi hay thuốc nhuộm, công nghiệp tạo mẫu…
Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho sản xuất phát
triển và ổn định.
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng
cao năng lực sản xuất trong nước.
SVTH: HOÀNG THỊ XUÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 9 GVHD: PGS-TS NGUYỄN VĂN LUÂN
Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng
lực sản xuất trong nước. Điều này muốn nói đến xuất khẩu là phương tiện quan trọng tạo
ra vốn và kỹ thuật, công nghệ từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam, nhằm hiện đại hóa
nền kinh tế của đất nước, tạo ra một năng lực sản xuất mới.
Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị
trường thế giới về giá cả, chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức
lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất thích nghi được với thị trường.
Thứ ba. xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải
thiện đời sống nhân dân
Tác động của xuất khẩu đến việc làm và đời sống bao gồm rất nhiều mặt. Trước hết
sản xuất, chế biến và dịch vụ hàng xuất khẩu đang trực tiếp là nơi thu hút hàng triệu lao
động vào làm việc và có thu nhập không thấp.
Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ
trực tiếp đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
Xuất khẩu tác động trực tiếp đến sản xuất làm cho cả quy mô lẫn tốc độ sản xuất
tăng lên, các ngành nghề cũ được khôi phục, ngành nghề mới ra đời, sự phân công lao
động mới đòi hỏi lao động được sử dụng nhiều hơn, năng suất lao động cao và đời sống
nhân dân được cải thiện.
Thứ tư, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại
của nước ta.
Chúng ta thấy rõ xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại
phụ thuộc lẫn nhau. Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối
ngoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động này phát triển. Chẳng hạn, xuất khẩu
và công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, mở rộng vận
tải quốc tế… Mặt khác, chính các hoạt động kinh tế đối ngoại chúng ta vừa kể lại tạo
tiền đề cho mở rộng xuất khẩu.
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát
triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hóa đất nước.
SVTH: HOÀNG THỊ XUÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 10 GVHD: PGS-TS NGUYỄN VĂN LUÂN
1.1.3.2 Đối với doanh nghiệp
Ngày nay, xu hướng vươn ra thị trường nước ngoài là xu hướng chung của các
doanh nghiệp. Việc xuất khẩu hàng hóa dịch vụ đem lại cho doanh nghiệp những lợi ích
sau:
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đa dạng hóa thị trường tiêu thụ sản
phẩm, giúp tăng doanh số, tăng lợi nhuận, đồng thời phân tán và chia sẻ rủi ro trong hoạt
động kinh doanh, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển.
Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào cuộc
cạnh tranh trên thị trường thế giới cả về chất lượng, mẫu mã và giá cả…Những yếu tố
đó đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường,
luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý sản xuất kinh doanh.
Cũng thông qua xuất khẩu, doanh nghiệp có cơ hội tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm
về kiến thức trong kinh doanh, về trình độ quản lý, giúp doanh nghiệp tiếp cận với công
nghệ tiên tiến, hiện đại; đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực thích nghi với điều kiện kinh
doanh mới nhằm cho ra đời những sản phẩm có chất lượng cao, đa dạng và phong phú.
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu
1.1.4.1 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp không tồn tại độc lập mà nó tồn tại
trong một môi trường gồm rất nhiều mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Các nhân tố
này tuy ở bên ngoài nhưng nó có ảnh hưởng rất lớn đối với hoạt động sản xuất, xuất
khẩu của doanh nghiệp, chi phối xu hướng hành động của doanh nghiệp. Các nhân tố
này bao gồm:
Nhân tố kinh tế
Trong xu thế toàn cầu hóa thì sự phụ thuộc giữa các nước ngày càng tăng, vì vậy
mỗi sự biến động của tình hình kinh tế xã hội ở nước ngoài đều có những ảnh hưởng
nhất định đến hoạt động kinh tế trong nước. Lĩnh vực hoạt động xuất nhập khẩu là lĩnh
vực trực tiếp quan hệ với các chủ thể ở nước ngoài, chịu sự chi phối và tác động của các
SVTH: HOÀNG THỊ XUÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 11 GVHD: PGS-TS NGUYỄN VĂN LUÂN
nhân tố ở nước ngoài nên nó lại càng nhạy cảm. Bất kỳ sự thay đổi nào về chính sách
xuất nhập khẩu, tình hình lạm phát, tăng trưởng hay suy thoái kinh tế…của các nước đều
ảnh hưởng tới hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.
Nền kinh tế của một quốc gia ngày càng phát triển cũng tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động xuất khẩu vì sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của nước đó trên trường thế
giới, hàng hóa xuất khẩu của nước đó sẽ không ngừng được cải thiện.
Hệ thống tài chính, ngân hàng cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu liên quan mật thiết với vấn đề thanh toán quốc tế, thông qua hệ
thống ngân hàng giữa các quốc gia. Hệ thống ngân hàng phát triển thì việc thanh toán
diễn ra càng thuận lợi, nhanh chóng sẽ tạo thuận lợi hơn cho các đơn vị kinh doanh xuất
khẩu. Mặt khác, sự phát triển của hệ thống tài chính ngân hàng cho phép các doanh
nghiệp thuận lợi hơn trong việc huy động vốn nhằm ổn định và phát triển hoạt động sản
xuất kinh doanh, tạo nguồn hàng cho xuất khẩu.
Tỷ giá hối đoái cũng là nhân tố kinh tế quan trọng trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt
động xuất khẩu. Vì khi tỷ giá hối đoái tăng lên, đồng nội tệ giảm giá trị so với đồng
ngoại tệ sẽ khiến hàng xuất khẩu rẻ hơn, dễ cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tuy
nhiên, lúc đó hàng nhập khẩu sẽ trở nên đắt hơn, gây nên tình trạng khan hiếm vật tư
nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, nhất là những doanh nghiệp sử dụng nhiều nguồn
nguyên vật liệu nhập khẩu. Do đó việc ổn định tỷ giá hối đoái, ổn định giá trị đồng tiền
là điều hết sức quan trọng.
Hệ thống cơ sở hạ tầng cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu. Hoạt
động xuất khẩu không thể tách rời hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin liên lạc,
vận tải… từ khâu nghiên cứu thị trường đến khâu thực hiện hợp đồng, vận chuyển hàng
hóa. Hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu và
góp phần hạ thấp chi phí cho đơn vị kinh doanh xuất khẩu.
Ngoài ra, sự hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, sự tham gia vào các tổ
chức thương mại như APEC, WTO… cũng sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu
phát triển.
SVTH: HOÀNG THỊ XUÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 12 GVHD: PGS-TS NGUYỄN VĂN LUÂN
Nhân tố chính trị
Thương mại quốc tế có liên quan đến rất nhiều quốc gia trên thế giới, do vậy tình
hình chính trị xã hội của mỗi quốc gia hay khu vực đều có ảnh hưởng đến hoạt động
xuất khẩu của doanh nghiệp thông qua các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của quốc
gia hay khu vực đó. Nếu tình hình chính trị không ổn định sẽ gây thiệt hại rất lớn về
người và của cho các doanh nghiệp đang hoạt động tại đó. Chính vì thế doanh nghiệp
kinh doanh xuất khẩu phải nắm rõ tình hình chính trị xã hội của quốc gia mà mình xuất
khẩu hàng hóa, từ đó có biện pháp ứng phó kịp thời với những biến động về chính trị.
Nhân tố văn hóa – xã hội
Mỗi quốc gia sẽ có những yếu tố văn hóa – xã hội khác nhau như phong tục tập
quán, niềm tin, lối sống, tâm lý, kỳ vọng, tác phong công tác…Các yếu tố này hình
thành nên các loại hình khác nhau của nhu cầu thị trường, là nền tảng cho sự xuất hiện
thị hiếu tiêu dùng, sự yêu thích trong tiêu dùng sản phẩm cũng như sự tăng trưởng của
các đoạn thị trường mới.
Các doanh nghiệp xuất khẩu chỉ có thể thành công trên thị trường quốc tế khi có
những hiểu biết nhất định về môi trường văn hóa của các quốc gia, khu vực thị trường
mà mình dự định đưa hàng hóa vào để đưa ra các quyết định phù hợp với nền văn hóa xã
hội ở khu vực thị trường đó.
Nhân tố pháp luật
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động có sự tham gia của nhiều chủ thể kinh tế ở nhiều
quốc gia khác nhau mà mỗi quốc gia có những bộ luật riêng gắn liền với trình độ phát
triển của quốc gia đó. Yếu tố này không chỉ chi phối những hoạt động của nền kinh tế
nước đó mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động của các doanh nghiệp tại các nước
xuất khẩu thông qua hệ thống thuế quan, các quy định về chủng loại, nhãn mác, xuất xứ,
bản quyền… Do đó trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu, mỗi doanh nghiệp phải trang
bị cho mình kiến thức về môi trường luật pháp của nước mình cũng như của nước mà
mình muốn xuất khẩu hàng hóa sang đó.
SVTH: HOÀNG THỊ XUÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 13 GVHD: PGS-TS NGUYỄN VĂN LUÂN
Nhân tố khoa học – công nghệ
Các nhân tố khoa học công - nghệ quan hệ chặt chẽ với nhau trong hoạt động kinh
tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng. Sự phát triển và mức độ áp dụng khoa
học công nghệ vào sản xuất giúp các doanh nghiệp tăng quy mô, năng suất, tiết kiệm chi
phí, hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó tạo ra khả năng cạnh tranh cao
cho sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. Sự phát triển của khoa học công
nghệ còn tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp khai thác và tìm kiếm các thông tin
về sản phẩm và thị trường, đẩy mạnh sự phân công và hợp tác quốc tế, mở rộng quan hệ
giữa các khối quốc gia tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu ngày càng phát triển.
Nhân tố cạnh tranh quốc tế
Cạnh tranh trên thị trường quốc tế khốc liệt hơn trên thị trường nội địa rất nhiều.
Ngày nay, các đối thủ cạnh tranh không chỉ dựa vào sự vượt bậc về kinh tế, chính trị,
tiềm lực khoa học công nghệ mà còn liên doanh liên kết thành các tập đoàn lớn tạo nên
thế mạnh độc quyền mang tính toàn cầu sẽ gây khó khăn rất lớn cho hoạt động xuất khẩu
của các nước nhỏ bé. Do đó, sức ép từ các đối thủ cạnh tranh là rất lớn đòi hỏi doanh
nghiệp phải có khả năng suy đoán và phân tích tình hình thị trường thật tốt để có thể
cạnh tranh thành công. Ngoài ra, các sản phẩm trên thị trường hiện nay cũng rất đa dạng
và sản phẩm thay thế cũng rất phát triển. Vì vậy doanh nghiệp cần phải xác định lợi thế
trong sản phẩm của mình hoặc phải xây dựng cho sản phẩm của mình những đặc tính ưu
việt vượt hơn các đối thủ.
1.1.4.2 Các nhân tố thuộc doanh nghiệp
Nhân tố con người
Trong kinh doanh, con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để đảm bảo thành
công. Chính con người với năng lực của họ sẽ sử dụng một cách hiệu quả sức mạnh khác
mà họ có như vốn, tài sản, kỹ thuật, công nghệ… để khai thác và nắm bắt các cơ hội.
Nhân tố con người thể hiện quan trọng ở:
SVTH: HOÀNG THỊ XUÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 14 GVHD: PGS-TS NGUYỄN VĂN LUÂN
Ban lãnh đạo của doanh nghiệp: là bộ phận đầu não của doanh nghiệp, là nơi xây
dựng những chiến lược kinh doanh , đề ra mục tiêu đồng thời giám sát, kiểm tra việc
thực hiện các kế hoạch đã đề ra. Trình độ quản lý kinh doanh của ban lãnh đạo có ảnh
hưởng trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Một chiến lược kinh doanh
đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp và thị trường là cơ sở để
doanh nghiệp thành công trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu.
Đội ngũ các bộ kinh doanh xuất khẩu: đóng vai trò quyết định đến sự thành công
hay thất bại của doanh nghiệp trên thương trường. Hoạt động xuất khẩu chỉ có thể tiến
hành khi có sự nghiên cứu tỉ mỉ về thị trường, về đối tác, về các đối thủ cạnh tranh, về
phương thức giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng… Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp
phải có đội ngũ các bộ kinh doanh am hiểu thị trường quốc tế, có khả năng phân tích và
dự báo những xu hướng vận động của thị trường, có khả năng giao dịch đàm phán đồng
thời thông thạo các thủ tục xuất nhập khẩu.
Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp: cơ cấu tổ chức đúng đắn sẽ phát huy được trí
tuệ của tất cả các thành viên trong doanh nghiệp, phát huy tinh thần đoàn kết và sức
mạnh tập thể, đồng thời đảm bảo cho việc ra quyết định sản xuất kinh doanh được nhanh
chóng và chính xác. Cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc phối hợp
giải quyết các vấn đề nảy sinh, đối phó được với những biến đổi của môi trường kinh
doanh và kịp thời nắm bắt các cơ hội một cách nhanh nhất.
Nhân tố tài chính
Năng lực tài chính thể hiện ở vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn là một nhân
tố quan trọng trong hàm sản xuất và nó quyết định tốc độ tăng sản lượng của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp có vốn kinh doanh càng lớn thì cơ hội giành được những hợp
đồng hấp dẫn sẽ trở nên dễ dàng hơn. Vốn của doanh nghiệp ngoài nguồn vốn tự có thì
nguồn vốn huy động cũng có vai trò rất lớn đối với hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, một
cơ cấu vốn hợp lý cũng là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.
Khả năng trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp
SVTH: HOÀNG THỊ XUÂN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét