XÃ HỘI HỌC ĐỨC
chịu ảnh hưởng của triết học cổ điển Đức gắn với những nhân vật như kant,
hegel, feuer bach. ảnh hưởng của kant đối với Weber và Xã hội học Đức,
nhìn chung cho thấy Xã hội học Đức và chủ nghĩa Marx có những nguồn
gốc triết học khác nhau, như chúng ta thấy chính hegel không phải là kant là
tác nhân quan trọng đối với lý thuyết Marx và những người Marxist đi tìm
mỗi quan hệ các xung đột và mâu thuẫn, thì triết học kant ít nhất đã dẫn dắt
một số nhà Xã hội học Đức tìm kiếm tiền đồ trong những bối cảnh ổn định
hơn.
Tuy vậy trong khuôn khổ là một bài tiểu luận nhỏ nên Tôi chỉ nêu ra
những tư tưởng của hegel và Feuer bach đây là hai nhân vật có tác đông và
ảnh hưởng mạnh mẽ tới quan điểm và lý thuyết của Marx và Max Weber
cũng như đối với Xã hội học Đức sau này.
5
XÃ HỘI HỌC ĐỨC
PHẦN NỘI DUNG
I. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI NƯỚC ĐỨC
1.1. Điều kiện về kinh tế
Chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh chóng, vuơn lên đứng hàng thứ hai
của thế giới, trong giai đoạn này ở nước Đức đầu xuất hiện các công ty độc
quyền.
Từ những năm 70 của thế kỉ XIX, nước Đức đã trở thành một nước
thống nhất,đức đã áp dụng được những kinh nghiệm và phát minh kỹ thuật
mới nhất trong sản xuất. nền kinh tế nước Đức lớn lên nhanh chóng. Từ một
nước nông nghiệp, Đức dần dần trở thành một nước công nghiệp quan trọng
ở Châu Âu. Và thế giới. sản lượng các nghành công nghiệp nặng tăng lên
nhanh chóng, chiếm tỉ lệ đáng kể trong tổng sản lượng thế giới, các nghành
công nghiệp mới như điện, hóa chất tăng mạnh mẽ, chiếm vị trí hàng đầu
Châu Âu.
Sự phát trển nhanh chóng của công nghiệp đưa tới hiện tượng tập
trung sản xuất và hình thành các tổ chức lũng đoạn sớm hơn các nước khác.
Hình thức lũng đoạn phổ biến nhất là các ten và xanhđica.
Bên cạnh công nghiệp hiện đại, Đức còn duy trì thủ công nghiệp trong
thời gian khá lâu. Nông nghiệp nước Đức cũng có những bước tiến bộ,
nhưng chậm chạp vì sự tiến hành không triệt để của cuộc cách mạng dân chủ
tư sản.
XÃ HỘI HỌC ĐỨC
Đến đầu thế kỉ XX, tốc độ phát triển của công nghiệp Đức có những
bức chuyển biến mạnh mẽ, về tổng sản lượng cũng như về những nghành cơ
bản, Đức đứng vào hàng đầu châu âu và thứ hai trên thế giới.
Thu hoạch nông nghiệp cũng tăng nhanh chóng trên cơ sở cơ giới hóa
lao động và sử phân bón hóa học. Quá trình tập trung sản xuất và hình thành
những tổ chức lũng đoạn được đẩy mạnh trên quy mô rất lớn, số cacsten
tăng lên nhanh chóng năm 1905 có 385 đến 1911 có 550-600. Lực lượng
kinh tế nước Đức tập trung trong tay 3 chục “vua công nghiêp” như
krup,titxen,ximen…giai cấp tư sản Đức còn chú ý xuất khẩu ra nước ngoài
chủ yếu là đông Nam Âu, Cận Đông và Nam Mỹ.
1.2. Về chính trị
Nước Đức xuất hiện liên bang chế độ quân chủ lập hiến, Đức dùng
sức mạnh quân sự để đàn áp nhân đân và gây chiến tranh thống trị thế giới.
Đế quốc Đức là một quốc gia có nền độc tài quân sự được tổ chức
theo lối quan liêu, được bảo vệ bằng cảnh sát, được trang sức bằng những
hình thức nghị viện,với một mớ hỗn hợp những yếu tố phong kiến và đồng
thời chịu ảnh hưởng của giai cấp tư sản.
Cuối thế kỉ XIX ở nước Đức lúc này hình thành ra các Đảng. Đảng
bảo thủ đại diện cho quyền lợi của địa vị quý tộc địa chủ vùng đông phổ.một
bộ phận của Đảng bảo thủ tách ra thành Đảng đế quốc hay Đảng bảo thủ tự
do, đại diện cho lợi ích của đại địa chủ, tổ chức nhà thờ thành lập Đảng,
“trung tâm cơ đốc giáo” các Đảng trên đều đứng trên lập trường của giai cấp
bóc lột, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản.
7
XÃ HỘI HỌC ĐỨC
Cuối thế kỉ XIX giai cấp công nhân Đức bị bốc lột năng nề, đồng
lương thấp, điều kiện lao động khắc khổ, phong trào đấu tranh đòi cải thiện
đời sống phát triển mạnh, nhưng mang lại ít hiệu quả.
Năm 1875, phái Aidơ Năc và phái Lat Xan đã họp đại hội ở thành phố
Gôta thành lập ra một chính Đảng thống nhất lấy tên là Đảng thống nhất lấy
tên “Đảng công nhân xã hội dân chủ Đức” đưa ra cương lĩnh Gôta, những
cương lĩnh nó thể hiện tính chất cơ hội chủ nghĩa bị phê phán.
Phong trào công nhân và đảng của gia cấp công nhân Bix Mac đại
diện cho sự cấu kết của hai tập đoàn tư bản và Gioongke tấn công mạnh và
người lãnh đạo Đảng tuyên bố giải tán Đảng, năm 1890 Đảng xã hội dân chủ
lại ra hoạt động công khai, nhiều cuộc biểu tình nổ ra và họ thông qua cương
lĩnh mới tiến bộ hơn cương lĩnh Gota.
Đầu thế kỉ XX, phong trào công nhân Đức đạt tới đỉnh cao mới. Nhiều
cuộc bãi công nổ ra và số lượng người tham gia tăng. Những tin tức của
cuộc Cách mạng Nga 01/1905 lan truyền nhanh sang Đức, làn sóng đấu
tranh ở nước Đức lại bùng lên mạnh mẽ.
Đầu thế kỉ XX, mâu thuẫn giữa các đế quốc ngày càng gay gắt. Đức
đã chuẩn bị kế hoạch chiến tranh chống Nga và Pháp. Việc tăng ngân sách
quân sự và các hoạt động chiến tranh đè lên vai quần chúng, thuế khóa tăng,
ngày làm vệc kéo dài, giá sinh hoạt lên cao, đời sống rất khó khăn, nhiều
cuộc đấu tranh của công nhân bùng nổ, có khả năng dấn tới một cuộc cách
mạng. Những Đảng xã hội dân chủ Đức không lãnh đạo dược quần chúng
tiến lên hoạt động cách mạng, hơn nữa các lãnh tụ Đảng lại đầu hàng bọn cơ
hội làm suy yếu lực lượng của giai cáp công nhân.
8
XÃ HỘI HỌC ĐỨC
1.3 Về xã hội
Nhà nước đế quốc Đức được thành lập sau khi cuộc đấu tranh thống
nhất thắng lợi. Vua là người đứng đầu nhà nước. Nhà vua có quyền rất lớn
như thống lĩnh quân độ, bổ nhiệm và cách chức chức thủ tướng, ký ước,
ngoại dao, tuyên chiến…vua có quyền triệu tập, giải tán và hoãn các phiên
họp của hội đồng liên bang và quốc hội…
Vai trò của quý tộc Giooke (quý tộc tư sản hóa)còn rất lớn, thế lực
kinh tế của quý tộc khá mạnh, nhất là miền đông phổ. Hầu hết đất đai ở
trong tay họ, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho nông thôn phân hóa
sâu sắc, phần lớn nông dân nghèo túng hay phá sản phải đi làm thuê. Cho
các địa chủ, phú nông hoặc đi làm ăn ở các cơ sở công nghiệp, do vậy giai
cấp công nhân Đức rất lớn mạnh.
Đại đa số quần chúng nhân dân bị bóc lột nặng nề, bị tước đoạt quyền
tuyển cử, bị gạt ra ngoài sinh hoạt chính trị của nhà nước. Giai cấp tư sản
công nghiệp lớn mạnh, có vai trò rất lớn trong nền kinh tế và chính trị của
nước Đức.
II MỘT SỐ NHÀ TƯ TƯỞNG CỦA XÃ HỘI HỌC
1.G. W.F.Hegel
Hegel là một trong những nhân vật có ảnh hưởng về tri thức đối với
Marx, quan điểm triết học to lớn của của ông đã dạy cho những người người
Đức trong đó có Marx cách thảo luận về lịch sử , chính trị văn hóa.
Hai khái niệm nền tảng của Hegel là phép biến chứng và chủ nghĩa
duy tâm. Tư tưởng về phép biến chứng rất phức tạp, phếp biến chứng vừa là
một phương pháp tư duy, vừa là một cách hình dung về thế giới. Ở mặt này,
9
XÃ HỘI HỌC ĐỨC
nó là cách thức tư duy nhấn mạnh sự quan trọng của các tiến trình, các mối
quan hệ, các động lực các xung đột và các mâu thuẫn một phương thức tư
duy năng động chứ không phải là tĩnh tại về thế giớ. Ơ mặt kia, nó nhìn nhận
rằng, thế giới được tạo nên không phải là một cấu trúc bất động mà là từ cấc
tiến trình các mỗi quan hệ, các động lực, các xung đột và mâu thuẫn.
Hegel gắn liền với trết học duy tâm, nhấn mạnh đến quan trọng của trí
tuệ và các sản phẩm tinh thần hơn là thế giới vật chất, cái đáng lưu tâm nhất
là các định nghĩa xã hội về các định nghĩa về vật lý và vật chất chứ không
phải về chính bản thân chúng, ở hình thức cực đoan, chủ nghĩa duy tâm
khẳng định rằng chỉ có trí tuệ và các thiết chế tâm lý là tồn tại. Hegel rất lưu
tâm đến sự phát triển của những tư tưởng đó, đặc biệt là cái mà ông cho rằng
“tinh thần” của xã hội.
Hegel đề ra một loạt thuyết tiến hóa của thế giới trong phạm vi tư
tưởng. Đầu tiên mọi người chỉ được phú cho khả năng đạt được một sự hiểu
biết cảm tính về thế giới xung quanh họ. Họ có thể hiểu sự vật bằng cách
nhìn, ngửi, cảm nhận về vật lý xã hội. Sau đó người ta phát triển năng lực
nhận thức để hiểu biết chính bản thân họ. Với sự tự nhận biết và thấu hiểu
bản thân, mọi người bắt đầu hiểu rằng họ có thể trở nên khá hơn trước đây.
Ở phạm vi phép biến chứng của Hegel một mỗi mâu thuẫn phát triển dần
giữa cái mà mọi người đã từng làm và cái mà họ cảm thấy họ có khả năng
trở nên. Giải pháp của mâu thuẫn này nằm trong sự phát triển của nhận thức
của một cá thể về vị trí của mình trong tinh thần to lớn của xã hội.
Hegel đề ra một lý thuyết chung về sự tiến hóa của thế giới, đó là một
lý thuyết duy tâm chủ quan, trong đó sự thay đổi được tác động để xảy ra ở
10
XÃ HỘI HỌC ĐỨC
cấp độ ý thức. Tuy nhiên sự thay đổi này xảy ra một cách rộng lớn và nằm
ngoài sự kiểm soát của những người thực hiện. Những người thực hiện bị
giảm thiểu, thành những dòng chảy bị cuốn theo chiều tiến hóa không thể
cưỡng lại của ý thức.
2. Ludwig Feuerbach
Ông là một chiếc cầu nối quan trọng giữa Marx và Hegel, là một
người thuộc phái Hegel trẻ Feuerbach phê phán Hegel về sự đề cao thái quá
của ông đối với ý thức và tinh thần xã hộ.quan điểm của Feurebach về triết
học duy vật, dẫn ông ta tới lý luận rằng, diều cần thiết là phải chuyển từ chủ
nghĩa duy tâm chủ quan của Hegel sang một trọng tâm không phải về các ý
tưởng mà về thực tiễn duy vật của con người trong thực tại.
Trong các bài viết phê phán Hegel của Feuerbach ông tập trung vào
tôn giáo, theo Feuerbach thượng đế chỉ đơn giản là một hình ảnh phóng
chiếu của mọi người đối vớ bản chất con người của họ vào một lực lượng
phi nhân hóa. Mọi người đặt thuợng đế lên cao trên đầu họ và kết quả là họ
trở nên tha hóa khỏi thượng đế và tạo ra một loạt các đặc tính tích cực cho
thượng đế. Trông khi họ tự hạ thấp mình xuống, trở nên không hoàn thiện,
không quyền nằng, và đầy tội lỗi. Feuerbach lý luận rằng, kiểu tôn giáo này
phải dược khắc phục và việc đánh bại nó có thể phải được hỗ trợ bằng một
triết học duy vật, trong đó mọi người trở nên đối tượng cao nhất của riêng
họ, tự bản thân họ là đỉnh điểm. Chính con người thực sự chứ không phải
các ý tưởng trìu tượng như tôn giáo, cần được thần thánh hóa bởi một hệ
thống triết học duy vật.
11
XÃ HỘI HỌC ĐỨC
3. Karl Marx (1818-1883)
3.1. Sơ lược tiểu sử
Karx Marx nhà triết học và kinh tế học của Đức mà nhà lý luận của
phong trào công nhân thế giới, nhà sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử và
chủ nghĩa cộng sản khoa học, sinh ra ở Treves mất ở London.
Marx học lấy bằng tiến sĩ luật ở trường đại học tổng hợp Bonn, sau
học lấy bằng tiến sĩ triết học ở trường đại học tổng hợp Berlin. Sauk hi tốt
nghiệp năm 1841 Marx bắt đầu lấy Jenny Von Wesphaler và chuyển gia
đình tới Pari. Ông kết bạn với Friedrich Engels, con trai của một ông chủ
nhà máy dệt giàu có người Đức, làm quản lí trong một nhà máy dệt. Cả hai
người đã trở thành bạn chiến đấu thân thiết của nhau, cùng viết tuyên ngôn
Đảng cộng sản vào 1848 và cùng phát triển hoàn thiện học thuyết Marx.
Cuộc đời Marx là cuộc đời hoạt động cách mạng và hoạt động nghiên
cứu khoa học. Với tư cách là một nhà cách mạng lỗi lạc, Marx đã tham gia
tổ chức và lãnh đạo các hoạt động nhằm đấu tranh xóa bỏ chế độ người bóc
lột người, hướng tới xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa. Trong “Tuyên
ngôn Đảng cộng sản” năm 1848, Marx và Engels viết : “thay cho xã hội tư
sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một
liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát
triển tư do của tất cả mọi người”.
Theo Engels nhận xét rằng : “Hai phát hiện vĩ đại đó là quan niệm duy
vật lịch sử và việc bóc trần bí mật của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa nhờ giá
trị thặng dư, là công lai của Marx. Nhờ hai phát hiện ấy, chủ nghĩa xã hội đã
12
XÃ HỘI HỌC ĐỨC
trở thành một khoa học và giờ đây vấn đề trước hết là phải tiếp tục nghiên
cứu trong mọi chi tiết và mọi mối liên hệ tương hỗ của nó”.
Các tác phẩm vĩ đại của Marx gồm có: “Gia đình thần thánh’’
(1845), “Sự khốn cùng của triết học’’: trả lời cuốn “Triết học về sự khốn
cùng của ông Pru – đông” (1847), “Tuyên ngôn Đảng cộng sản’’ (1848), góp
phần phê phán kinh tế chính trị (1859)…
Trong số di sản lý luận đồ sộ của Marx và Engels, Tuyên ngôn Đảng
cộng sản (1848) là kim chỉ nam cho hoạt động cách mạng của những người
cộng sản trên toàn thế giới. Bộ tư bản phê phán khoa kinh tế chính trị (1867)
đã trình bày một cách khoa học các kết quả của sự phân tích sâu sắc phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và những quan hệ sản xuất và trao đổi thích
ứng với phương thức ấy. Trong các tác phẩm của mình Marx vạch ra quy
luật lịch sử tự nhiên của sự vận động kinh tế của xã hội tư bản chủ nghĩa và
chỉ ra con đường và xu hướng phát triển tất yếu của xã hội loài người là tiến
tới chủ nghĩa cộng sản. .
Marx không tự xem mình là một nhà Xã hội học, mặc dù công trình
của ông quá rộng lớn để có thể bao hàm phạm vi Xã hội học. Nhưng chúng
ta phát hiện một phạm vi Xã hội học trong công trình của ông. Ngay từ buổi
đầu, đã có những người chịu ảnh hưởng của Marx vấn đang tiếp tục có một
bộ phận Xã hội học Marxian. Nhưng đối với phần đông nhưng nhà Xã hội
học thời kì đầu, thường nhìn nhận những công trình của ông một cách phiến
diện, như một cái gì đó chống lại Xã hội học của họ. Mãi tới gần đây, lý
thuyết Xã hội học nhất là ở Mỹ, đã có sự tìm hiểu nghiên cứu lý thuyết
Marx.
13
XÃ HỘI HỌC ĐỨC
3.2. Lý luận học thuyết Marx
Chủ nghĩa duy vật lịch sử, lý luận và phương pháp luận Xã hội học
của Marx. Chủ nghĩa duy vật lịch sử và lý luận Xã hội học của Marx. Các
tác phẩm của Marx chứa đựng hệ thống lý luận Xã hội học hoàn chỉnh cho
phép vận dụng để nghiên cứu bất kỳ một xã hội nào. Mặc dù Marx không tự
xem mình là nhà Xã hội học vĩ đại của mọi thời đại, là người đặt nền mõng
vững chắc cho sự phát triển của Xã hội học hiện đại. Quan niệm duy vật
biện chứng của Marx về các quá trình và hiện tượng xã hội là sự thống nhất
của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng về lịch sử và xã hội.
Luận điểm gốc của chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng: Sản xuất và
tiếp theo sau sản xuất là trao đổi sản phẩm của sản xuất là cơ sở của mọi chế
độ xã hội. Theo Marx nghiên cứu đời sống xã hội phải hướng vào phân tích
cuộc sống thực, phải xuất phát từ tiển đề - “là những cá nhân hiện thực, là
hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ”. Tiền đề đầu
tiên của lịch sử của loài người là sự tồn tại của những cá nhân con người
sống, là “người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể làm ra lịch sử. Sự
tồn tại và cuộc sống của con người phụ thuộc vào việc con người sản xuất ra
cái gì và như thế và như thế nào, tức là bản chất của con người phụ thuộc
vào các điều kiện vật chất quy định sản xuất.
Xuất phát điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử là việc phân tích các quá
trình lịch sử xã hội từ góc độ hoạt động vật chất của con người từ góc độ cơ
sở kinh tế của xã hội, từ quan điểm tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội.
Marx kế thừa có phê phán và phát triển sang tạo phép biện chứng của Hegel
trong nghiên cứu của giới tự nhiên, hiện thực xã hội và con người. Phép duy
vật biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ qua
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét