1.4.Phân loại vốn
Để quá trình quản lý và sử dụng vốn trở nên dễ dàng thuận lợi và đạt hiệu
quả cao , các doanh nghiệp phải phân loại vốn thành các loại khác nhau tuỳ theo
mục đích và loại hình của từng doanh nghiệp .Tuy nhiên theo cách phân loại
chung thì vốn được chia thành hai loại:
1.4.1.Vốn cố định:
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền giá trị tài sản cố định ,sự vận động của
nó luôn gắn liền với sự vận hành và chu chuyển của tài sản cố định ,chính vì vậy
để có thể nghiên cứu sâu hơn vốn cố định trước hết ta phải tìm hiểu những đặc
điểm tài sản cố định .
Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu của doanh nghiệp mà
theo quy định của nhà nước nó phải thỏa mãn hai điều kiện :
-Thời gian sử dụng tối thiểu phải một năm trở lên
-Phải có giá trị đủ lớn theo quy định phù hợp với tình hình kinh tế của
từng thời kỳ (hiện nay là từ 5 triệu đồng trở lên)
Khi tham gia vào quá trình sản xuất tài sản cố bị hao mòn dần và giá trị
của nó (vốn cố định ) được dịch chuyển từng phần vào chi phí kinh doanh.Khác
với đối tượng lao động, tài sản cố định tham gia nhiều chu kỳ kinh doanh vẫn
giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu đến lúc hỏng.Tuỳ từng khu vực, từng
quốc gia mà quy định tài sản khác nhau và cũng như vậy thì có nhiều tài sản cố
định. Theo quy định hiện hành của Việt Nam tài sản cố định bao gồm hai loại:
-Tài sản cố định hữu hình: Tài sản cố định hữu hình là tư liệu lao động chủ
yếu, có hình thái vật chất , có giá trị lớn thời gian sử dụng lâu dài và tham gia
vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu.
Ví dụ: nhà cửa , thiết bị, máy móc,phương tiện vận tải truyền dẫn
Tiêu chuẩn nhất định nhận biết tài sản cố định hữu hình: mọi tư liệu lao
động là tài sản cố định có kết cấu độc lập hoặc là hệ thống bao gồm nhiều bộ
phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, để cùng thực hiện một hay một số chức
Trang 5
năng nhất định mà nếu thiếu bất cứ bộ phận nào thì cả hệ thống không hoạt động
được, nếu đồng thời thoả mãn cả hai nhu cầu sau:
-Có thời gian sử dụng từ năm năm trở lên.
-Có giá trị từ năm triệu đồng trở lên.
Trường hợp có một hệ thống gồm nhiều tài sản riêng lẻ liên kết với nhau
trong mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một
bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính
của nó, mà yêu cầu quản lý đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản đó
được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập. Ví dụ như khung và động cơ
trong một máy bay.
-Tài sản cố định vô hình:là những tài sản cố định không có hình thái vật
chất thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều
chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.Ví dụ như: chi phí sử dụng đất, Chi phí
bằng phát minh sáng chế
Tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định vô hình:mọi khoản chi phí thực tế
doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp nếu đồng thời thoả mãn cả hai điều kiện trên mà không thành
tài sản cố định hữu hình thì coi như là tài sản cố định vô hình.
Theo chế độ hiện hành doanh nghiệp phân loại tài sản cố định theo
tính chất của tài sản cố định cụ thể là:
Tài sản cố định dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh gồm:
+ Tài sản cố định hữu hình.
+Tài sản cố định vô hình.
Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp an ninh quốc
phòng.
Tài sản cố định doanh nghiệp bảo quản giữ hộ cho đơn vị khác hoặc giữ
hộ nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trang 6
Tuy nhiên tại quyết định1062 TC/QĐ/CSTC/ ngày 14/11/1996 của Bộ tài
chính về việc ban hành chế độ quản lý, sử dụng và khấu hao tài sản cố định cũng
có quy định riêng như sau:
Tuỳ theo yêu cầu quản lý doanh nghiệp tự phân loại chi tiết các tài sản cố
định theo từng nhóm cho phù hợp.
Việc nghiên cứu cơ cấu vốn cố định có ý nghĩa hết sức quan trọng trong
quá trình quản lý và sử dụng vốn cố định. Khi nghiên cứu cơ cấu vốn cố định
chúng ta phải xét trên hai góc độ nội dung kế hoạch và quan hệ của mỗi bộ phận
so với toàn bộ. Vấn đề cơ bản là phải xây dựng một cơ cấu vốn nói chung và cơ
cấu vốn cố định nói riêng cho phù hợp, hợp lý với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của
sản xuất, phù hợp với trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và trình độ quản lý
để tạo điều kiện tiền đề cho việc sử dụng và quản lý vốn một cách hợp lý và hiệu
quả nhất.
Thông qua quá trình tìm hiểu về tài sản cố định ở trên ta có thể đưa
ra kết luận vốn cố định là biểu hiện bằng tiền giá trị của tài sản cố định,sự
vận động của vốn cố định chính là sự vận động giá trị tài sản cố định, trong
quá trình sản xuất kinh doanh nó sẽ luân chuyển dần dần từng phần trong
nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố
định hết thời gian sử dụng. Vốn cố định là một bộ phận quan trọng không
thể thiếu trong vốn kinh doanh của doanh nghiệp .Vì vậy doanh nghiệp
muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trước hết doanh nghiệp
phải làm tốt công quản lý , tổ chức phân bổ và sử dụng vốn cố định.
1.4.2.Vốn lưu động:
Nếu mỗi doanh nghiệp chỉ có vốn cố định điều đó sẽ không đảm bảo
chu kỳ sản xuất kinh doanh được bình thường, như vậy phải có vốn lưu
động, đó là nguồn vốn hình thành trên tài sản lưu động, là lượng tiền ứng
trước để có tài sản lưu động. Khác với tài sản cố định, tài sản lưu động chỉ
tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và chuyển dịch một lần toàn
bộ giá trị vào sản phẩm tạo nên thực tế sản phẩm Đặc điểm của tài sản lưu
Trang 7
động và tài sản cố định lúc nào cũng nhất trí với nhau do đó phải giảm tối
thiểu sự chênh lệch thời gian này để tăng hiệu quả sử dụng vốn.
Cơ cấu vốn lưu động là tỉ lệ giữa các bộ phận cấu thành vốn lưu
động và mối quan hệ giữa các loại và của mỗi loại so với tổng số.
Xác định cơ cấu vốn lưu động hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong công tác
sử dụng có hiệu quả vốn lưu động.Nó đáp ứng yêu cầu về vốn trong từng
khâu,từng bộ phận ,trên cơ sở đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh và
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Để quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả thì việc phân loại vốn lưu động là
rất cần thiết. Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn lưu động được
chia làm 3 loại:
Vốn dự trữ: là bộ phận vốn dùng để mua nguyên vật liệu, phụ tùng thay
thế và dự trữ đưa vào sản xuất.
Vốn trong sản xuất là bộ phận vốn trực tiếp dùng cho giai đoạn sản xuất
như sản phẩm dở dang, chờ chi phí phân bổ.
Vốn trong lưu thông là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai đoạn lưu
thông như: thành phẩm , vốn bằng tiền mặt.
Căn cứ vào việc xác định vốn người ta chia vốn lưu động thành hai loại:
Vốn định mức:là vốn lưu động quy định mức tối thiểu cần thiết cho sản
xuất kinh doanh.Nó bao gồm vốn dự trữ, vốn trong sản xuất , sản phẩm hàng
hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản phẩm, vật tư thuê ngoài chế biến
Vốn lưu động không định mức: là số vốn không phát sinh trong quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhưng không có căn cứ để tính toán định
mức như: thành phẩm trên đường gửi đi, vốn kế toán
Căn cứ vào hình thái biểu hiện vốn lưu động bao gồm :
+Tiền mặt và chứng khoán có thể bán được
+Các khoản phải thu
+Các khoản dự trữ , vật tư hàng hoá
Căn cứ vào nguồn hình thành vốn lưu động bao gồm:
Trang 8
Vốn lưu động bổ xung là số vốn doanh nghiệp tự bổ xung từ lợi nhuận,
các khoản tiền phải trả nhưng chưa đến hạn như tiền lương, tiền nhà
Vốn lưu động do ngân sách cấp: là loại vốn mà doanh nghiệp nhà nước
được nhà nước giao quyền sử dụng.
Vốn liên doanh liên kết: là vốn do doanh nghiệp nhận liên doanh, liên kết
với các đơn vị khác.
Vốn tín dụng: là vốn mà doanh nghiệp vay ngân hàng và các đối tượng
khác để kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp cần phải xác định cho mình một cơ cấu
vốn lưu động hợp lý hiệu quả.Đặc biệt quan hệ giữa các bộ phận trong vốn lưu
động luôn thay đổi nên người quản lý cần phải nghiên cứu để đưa ra một cơ cấu
phù hợp với đơn vị mình trong từng thời kỳ, từng giai đoạn.
2.Các nguồn vốn của doanh nghiệp :
2.1.Căn cứ vào tính chất sở hữu:
2.1.1.Nguồn vốn chủ sở hữu :
Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ đầu tư của doanh nghiệp
cũng phải bỏ ra một số vốn nhất định . Đối với doanh nghiệp nhà nước vốn tự có
ban đầu chính là vốn do ngân sách nhà nước cấp .Đối với doanh nghiệp tư nhân
vốn tự có là số vốn pháp định cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp
,tức là số vốn tối thiểu chủ doanh nghiệp phải bỏ ra để được thành lập doanh
nghiệp theo quy định của pháp luật .Với công ty cổ phần nó là nguồn vốn do các
cổ đông đóng góp để thành lập công ty . Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu công ty
mà mức độ quyền hạn tham gia vào công ty căn cứ theo tỉ lệ góp vốn đồng thời
chịu trách nhiệm hữu hạn trên trị giá số cổ phần mà họ nắm giữ .
2.1.2.Nợ phải trả:
Bất cứ doanh nghiệp nào muốn đi vào hoạt động không chỉ dựa vào nguồn
vốn chủ sở hữu mà còn phải tận dụng các mối quan hệ huy động thêm vốn từ
bên ngoài như :Vay ngân hàng ,vay các tổ chức tín dụng và các đơn vị kinh tế
khác .Thậm chí trong quá trình sản xuất kinh doanh có khả năng doanh nghiệp
Trang 9
phải nợ người bán ,nợ lương công nhân viên để tích luỹ vốn đáp ứng nhu cầu
vốn quá lớn ở một khâu nào đó thì mới có thể duy trì được các hoạt động.Tất cả
những khoản trên được hạch toán vào khoản mục nợ phải trả của doanh nghiệp
nên sau một thời hạn nhất định theo thỏa thuận doanh nghiệp phải trả cả gốc và
lãi cho chủ nợ.Trong trường hợp này những người tài trợ cho doanh nghiệp
không phải là người chủ sở hữu doanh nghiệp vì vậy khi doanh nghiệp huy
động vốn từ nguồn này sẽ bị áp lực phải trả nợ và không tự chủ về mặt tài
chính.Mặc dù vậy nguồn tài trợ từ các khoản vay nợ vẫn là chỗ dựa vững chắc
cho các doanh nghiệp khi cần vốn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh hay
tích luỹ vốn để tái sản xuất mở rộng qui mô hoạt động .
Đây là cách phân chia rất cơ bản và phổ biến trong nền kinh tế thị
trường.Dựa vào cách phân chia này doanh nghiệp có thể thiết lập cơ cấu nguồn
tài trợ tối ưu để tăng cường hiệu quả sử dụng vốn của mình
2.2 Căn cứ vào thời gian huy động :
Xét theo thời gian huy động thì vốn kinh doanh của doanh nghiệp được
chia làm hai loại:
2.2.1.Nguồn tài trợ dài hạn
Đây là nguồn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng dài hạn
vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như đầu tư mua sắm TSCĐ và một
bộ phận tài sản lưu động tối thiểu cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp .Nó có ưu điểm là giúp cho doanh nghiệp giải quyết được
nhiều vấn đề có tính chất dài hạn mà không gặp khó khăn trong vấn đề thanh
toán hoàn trả .Nguồn tài trợ dài hạn có thể nhận được dưới hình thức vay nợ dài
hạn , vốn cổ phần hoặc mua bán trao đổi các công cụ tài trợ dài hạn trên thị
trường vốn như :cổ phiếu ,trái phiếu và các hình thức tài trợ tín dụng khác.
Cổ phiếu thường
Cổ phiếu thường :là một chứng khoán thể hiện quyền sở hữu vĩnh viễn đối
với công ty bởi không có sự dự kiến trước thời gian đáo hạn .Giá trị ghi trên bề
mặt cổ phiếu gọi là mệnh giá cổ phiếu (Par Value).Giá cả cổ phiếu trên thị
Trang 10
trường gọi là thị giá .Trị giá cổ phiếu được phản ánh trong sổ sách của công ty
cổ phần gọi là giá trị ghi sổ .Mệnh giá chỉ có ý nghĩa khi mới phát hành cổ phiếu
hay trong thời gian ngắn. Thị giá phản ánh sự đánh giá của thị trường , phản ánh
lòng tin của nhà đầu tư đối với hoạt động của công ty.Thị giá thay đổi xung
quanh giá trị cổ phiếu tuỳ thuộc quan hệ cung cầu trên thị trường . Số lượng cổ
phần tối đa mà công ty được quyền huy động được gọi là vốn pháp định .Số
lượng cổ phiếu tương ứng với số vốn pháp định được ghi trong điều lệ của
doanh nghiệp gọi là vốn điều lệ . Những cổ phần sẽ được đưa ra bán cho dân
chúng đầu tư gọi là cổ phần dự kiến phát hành và số lượng phát hành thường
thấp hơn số lượng ghi trong điều lệ .Tổng số lượng cổ phần tối đa mà công ty
được phép phát hành gọi là vốn cổ phần và :
Vốn cổ phần =Tổng giá trị tài sản - các khoản nợ.
Các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường chính là những người sở hữu công
ty , có quyền tham gia kiểm soát và điều khiển các công việc của công ty tuỳ
theo tỉ lệ cổ phần mà họ nắm giữ.
Tuy nhiên trong mọi trường hợp phát hành cổ phiếu để huy động vốn công
ty cần phải lưu ý đến vấn đề bảo vệ công ty trước sự thôn tính bằng cổ phiếu của
các công ty khác điều đó có nghĩa là công ty phải tính đến tỉ lệ cổ phần tối thiểu
mà mỗi cổ đông được phép nắm giữ để duy trì tỉ lệ cân đối về sở hữu công ty.
Cổ phiếu ưu tiên:Là loại cổ phiếu có tỉ lệ cổ tức cố định . Người chủ của
cổ phiếu ưu tiên có quyền được thanh toán lãi trước các cổ đông thường .Nếu số
lợi nhuận ròng chỉ đủ để trả cổ tức cho các cổ đông ưu tiên thì các cổ đông
thường sẽ không được nhận cổ tức của kỳ đó.Thông thường trong tổng số vốn
huy động thì cổ phiếu ưu tiên chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ .Nhưng trong trường
hợp công ty muốn tăng vốn chủ sở hữu chống lại sự phá sản của công ty nhưng
không muốn san sẻ quyền lãnh đạo thì cổ phiếu ưu tiên lại là công cụ hữu hiệu
nhất do đặc điểm của cổ phiếu ưu tiên là các cổ đông ưu tiên rất hiếm khi có
quyền bỏ phiếu đầy đủ như cổ đông cổ phiếu thường .Chỉ trong trường hợp các
Trang 11
cổ phiếu ưu tiên không được trả cổ tức thì các cổ đông ưu tiên mới có thể được
quyền bỏ phiếu.v.v
Trái phiếu công ty:
Trái phiếu công ty là các giấy vay nợ dài hạn và trung hạn do công ty phát
hành.Tuỳ theo tập quán từng nước các công ty phát hành trái phiếu với những
kỳ hạn khác nhau .Trên thực tế trái phiếu công ty có rất nhiều loại mỗi loại lại
có những đặc điểm khác nhau như chi phí trả lãi , cách thức trả lãi , khả năng
lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu .Vì vậy trước khi phát hành nhà phát
hành cần phải hiểu rõ đặc điểm và ưu nhược điểm của mỗi loại trái phiếu .
Trái phiếu có bảo đảm :
Đây là loại trái phiếu được bảo đảm bằng những tài sản của công
ty.Những tài sản để đảm bảo cho các trái phiếu phát hành thường là các bất động
sản của doanh nghiệp , trong một số trường hợp vật bảo đảm cũng có thể là nhà
xưởng hay những thiết bị đắt tiền .Đồng thời một tài sản nào đó cũng có thể làm
vật bảo đảm cho nhiều lần phát hành trái phiếu nhưng phải thoả mãn điều kiện
tổng giá trị của tất cả các trái phiếu không được lớn hơn giá trị của tài sản thế
chấp .
Trái phiếu không có bảo đảm :
Ngược lại với trái phiếu có bảo đảm , trái phiếu không có bảo đảm là trái
phiếu không có một tài sản cụ thể nào cụ thể nào để đảm bảo cho khả năng
thanh toán của chúng , nhưng chúng vẫn được bảo đảm chắc chắn bằng thu nhập
tương lai và giá trị thanh lý của các tài sản của doanh nghiệp theo thứ tự ưu tiên
của luật phá sản tức là quyền lợi ưu tiên của các trái phiếu bao giờ cũng đứng
trước cổ phiếu , nhưng trong các trái phiếu thì các trái phiếu mới phát hành có
thứ tự ưu tiên cao hơn những trái phiếu đã phát hành trước chúng.
Trái phiếu trả lãi theo thu nhập :
Là trái phiếu mà tiền lãi chỉ được trả khi người vay thu được lợi nhuận
,nếu doanh nghiệp năm đó có thu nhập cao hơn số tiền lãi phải trả theo qui định
Trang 12
thì trái chủ sẽ được nhận toàn bộ tiền lãi,ngược lại khi lợi nhuận mà người vay
thu được nhỏ hơn số tiền lãi thì trái chủ chỉ được nhận tiền trả bằng khoản thu
nhập đó số tiền còn thiếu được chuyển sang những năm tiếp theo tuỳ theo qui
định trong khế ước của hai bên.Loại trái phiếu này có tính linh hoạt cao thích
hợp với những doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính.
Trái phiếu có lãi suất cố định:
Lãi suất trái phiếu là số tiền người vay phải trả cho trái chủ được tính là
chi phí bỏ ra để được sử dụng vốn ,số tiền này được trả một lần hay nhiều lần
tuỳ theo qui định của người phát hành .Trái phiếu có lãi suất cố định là loại trái
phiếu phổ biến nhất trong các loại trái phiếu công ty , lãi suất trái phiếu được ghi
trên mặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó.
Trái phiếu có lãi suất thả nổi :
Trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát và lãi suất thị trường không ổn
định dẫn đến lãi suất danh nghĩa của trái phiếu cũng bị ảnh hưởng làm cho trái
phiếu có lãi suất cố định không được ưu chuộng chính vì vậy các công ty thường
phát hành trái phiếu có lãi suất thả nổi ,lãi suất của loại trái phiếu này phụ thuộc
vào một số nguồn lãi suất quan trọng như lãi suất LIBOR(London Inter bank
offered Rate)hoặc lãi suất cơ bản PR ( Prime Rate).Thông thường lãi suất trái
phiếu này lấy lãi suất trái phiếu kho bạc làm chuẩn và được định kỳ điều chỉnh
sau những khoảng thời gian nhất định theo qui định . Những trái phiếu này sẽ
hấp dẫn các nhà đầu tư trong điều kiện nền kinh tế không ổn định , thị trường tài
chính biến động không ngừng nhưng có thể gây khó khăn cho công ty trong việc
hoạch định ngân quỹ vì công ty không thể phân biệt chắc chắn về chi phí lãi vay
của trái phiếu đồng thời do lãi suất trái phiếu thường xuyên thay đổi đòi hỏi
công ty phải tốn nhiều thời gian hơn cho quá trình quản lý trái phiếu do phải
điều chỉnh lãi suất .
Trái phiếu có thể thu hồi sớm :
Trang 13
Ngoài các loại trái phiếu trên , trái phiếu có thể thu hồi sớm cũng là một
hình thức huy động vốn được rất nhiều công ty sử dụng ,đặc điểm của loại trái
phiếu này là công ty có thể mua lại và một thời điểm nào đó trước khi mãn
hạn .Công ty nào phát hành trái phiếu này thì phải qui định rõ về thời hạn và giá
cả của trái phiếu khi công ty chuộc lại để người mua trái phiếu được biết .Trong
trường hợp này thì những trái chủ của trái phiếu có thể thu hồi sẽ không kiếm
được lãi suất mãn hạn (YTM).
Tín dụng thuê mua :Tín dụng thuê mua là một hình thức tài trợ tín dụng
thông qua các loại tài sản , máy móc thiết bị giúp cho các doanh nghiệp thiếu
vốn vẫn có được tài sản cần thiết sử dụng vào hoạt động kinh doanh của mình
.Đây là phương thức tài trợ thông qua hợp đồng thuê mua giữa người thuê và
người cho thuê .Người thuê được sử dụng tài sản và phải trả tiền thuê cho người
cho thuê theo thời hạn mà hai bên thoả thuận , người cho thuê là người sở hữu
tài sản và nhận được tiền cho thuê tài sản.
Tín dụng thuê mua có hai hình thức giao dịch chủ yếu là thuê vận hành và
thuê tài chính:
Thuê vận hành :Đây là một hình thức thuê ngắn hạn tài sản ,có thời gian
thuê thường rất ngắn so với toàn bộ thời gian tồn tại hữu ích của tài sản ,điều
kiện chấm dứt hợp đồng chỉ cần báo trước trong một thời gian ngắn .Đối với
người thuê thì chỉ phải trả tiền thuê theo thoả thuận , người cho thuê phải chịu
mọi chi phí vận hành tài sản như chi phí bảo trì , bảo hiểm , thuế tài sản cùng
mọi rủi ro về hao mòn vô hình của tài sản .Từ những đặc điểm trên cho thấy
thuê vận hành hoàn toàn phù hợp với những hoạt động có tính chất thời vụ ,sử
dụng tài sản trong thời gian ngắn , ngoài ra nó còn có ưu điểm là không cần phải
phản ánh tài sản thuê và sổ sách kế toán , không gặp nhiều khó khăn trong việc
quản lý và sử dụng .
Thuê tài chính: là phương thức tài trợ tín dụng trung và dài hạn theo hợp
đồng .Theo phương thức này người cho thuê thường mua tài sản , thiết bị mà
người thuê cần và đã thương lượng từ trước các điều kiện mua lại tài sản từ
Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét