Chuyên đề tốt nghiệp
Theo từ điển Hán Việt, hậu cần là công tác ở hậu phương nhằm phục vụ quân đội
về mọi mặt cần thiết.
Ngày nay thuật ngữ hậu cần được áp dụng trong kinh tế để diễn tả toàn bộ quá
trình vận động của nguyên vật liệu và sản phẩm đi vào và hàng hóa đi ra khỏi doanh
nghiệp qua khâu phân phối tới tay người tiêu dùng. Như vậy hậu cần chính là nghệ
thuật tổ chức sự vận động của hàng hóa, nguyên vật liệu từ khi mua sắm vật tư, qua
các quá trình lưu kho, sản xuất cho đến khi phân phối đưa hàng hóa đến tay người
tiêu dùng. Như vậy hoạt động hậu cần bao gồm hai hoạt động lớn tách biệt nhau đó là
hoạt động hậu cần vật tư cho sản xuất và hậu cần cho tiêu thụ sản phẩm.
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về hậu cần (logistics).
Theo hội đồng quản trị logistics Mỹ năm 1988: Logistics là quá trình lên kế
hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển
và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn thành phẩm và các thông tin liên quan từ
điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thỏa mãn những yêu cầu của
khách hàng.
Theo tác giả Donald J.Bowersox-CLM Proceeding-1987: Logistics là một
nguyên lý đơn lẻ nhằm hướng dẫn quá trình lên kế hoạch, định vị và kiểm
soát các nguồn nhân lực và tài lực có liên quan tới hoạt động phân phối vật
chất, hỗ trợ sản xuất và hoạt động mua hàng.
Theo Ủy ban quản lý logistics của Mỹ thì: Logistics là quá trình lập kế hoạch,
lựa chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển
và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên
vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ
giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối
cùng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Theo khái niệm của Liên hợp quốc được sử dụng cho khóa đào tạo quốc tế về
vận tải đa phương thức và quản lý logistics tổ chức tại Đại học Ngoại thương
Hà Nội tháng 10/2002 thì: Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển
Chuyên đề tốt nghiệp
nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra các sản phẩm cho tới tay
người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng…
Qua các khái niệm trên đây, cho thấy cho dù có khác nhau về cách diễn đạt,
cách trình bày nhưng trong nội dung tất cả định nghĩa đề cho thấy điểm chung đó là
thừa nhận logistics không phải là một hoạt động riêng lẻ mà là cả một quá trình quản
lý dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua các quá trình lưu kho,
sản xuất ra sản phẩm và phân phối đến tay người tiêu dùng. Chính vì vậy mà logistics
luôn được viết ở dạng số nhiều.
Xem sơ đồ sau:
Logistics đến (logistics nội biên) Logistics đi (logistics ngoại biên)
Chuỗi Logistics
Xem xét chuỗi hậu cần (chuỗi logistics) của một doanh nghiệp sản xuất có thể
phân biệt rõ ràng hai hoạt động cơ bản nhất: hoạt động dịch vụ hậu cần vật tư
(logistics đến) và hoạt động hậu cần tiêu thụ sản phẩm (logistics đi).
Vậy dịch vụ hậu cần vật tư cho sản xuất hay chính là logistics đến (logistics nội biên)
đó là các hoạt động chuẩn bị cho mua sắm vật tư cho sản xuất,quản lý dòng lưu
chuyển của vật tư từ khi mua sắm đến khi lưu kho và chuẩn bị vật tư sử dụng cho sản
xuất nhằm đảm bảo đầy đủ, kịp thời các yếu tố cho sản xuất sản phẩm.
Điểm cung
cấp nguyên
vật liệu
Kho dự trữ
nguyên liệu
Sản xuất
Kho dự trữ
sản phẩm
Thị trường
tiêu thụ
Kho Nhà
máy
Kho
A
Kho
Nhà
máy
Kho
B
Chuyên đề tốt nghiệp
2. Vai trò của dịch vụ hậu cần vật tư trong sản xuất cho các doanh nghiệp.
2.1 Tính tất yếu của dịch vụ hậu cần vật tư trong sản xuất cho các doanh nghiệp.
Trước đây hậu cần được sử dụng trong quân sự và mang lại hiệu quả rõ dệt. Trong
chiến tranh nghệ thuật này đã được tận dụng và phát triển mang lại những thắng lợi
lớn. Nhưng một thời gian dài thời kì hậu chiến, nghệ thuật trong “hậu cần” đặc biệt là
dịch vụ hậu cần vật tư bị lãng quên và bị coi nhẹ. Nhưng trong tình hình hiện nay, các
doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của dịch vụ hậu cần vật tư trong việc
thúc đẩy kinh doanh có hiệu quả hơn. Chính vì vậy họ bắt đầu quan tâm chú trọng tìm
các biện pháp để thúc đẩy hoạt động này. Theo xu thế chung tất yếu phải phát triển
dịch vụ hậu cần vật tư trong từng doanh nghiệp.
Thứ nhất, chi phí vận tải tăng nhanh. Với mức tăng chóng mặt của giá dầu thô
trên thế giới hiện nay kéo theo sự tăng giá của một loạt các mặt hàng làm kinh
tế thế giới chao đảo. Chi phí vận tải tăng, vận tải không thể là nhân tố cố định
trong phương án kinh doanh của doanh nghiệp nữa, như vậy đòi hỏi thực tế
cần có cấp quản lý cao hơn để can thiệp vào lĩnh vực liên quan đến vận tải và
cả trong lĩnh vực chính sách cũng như quá trình thực hiện.
Thứ hai, hiệu quả sản xuất đã đạt tới đỉnh cao, do đó ngày càng khó khăn hơn
trong việc tìm kiếm các biện pháp nhằm tiết kiệm hơn nữa những chi phí từ
sản xuất. Vì vậy, muốn tối ưu hóa quá trình sản xuất vật chất các doanh nghiệp
phải tìm một giải pháp “phân phối vật chất” và “hậu cần vật tư sản xuất” .
Dịch vụ hậu cần vật tư giúp cho quá trình cung ứng vật tư có hiệu quả cao, tối
ưu hóa đầu vào và giảm chi phí tới mức tối thiểu.
Thứ ba, sự thay đổi trong nguyên lý dự trữ hàng hóa. Trước đây người bán lẻ
giữ đến 50% hàng hóa của công ty,nửa còn lại là trong tay người bán buôn và
doanh nghiệp. Hiện nay thay đổi tỷ lệ nắm giữ hàng hóa: bán lẻ chiếm 10%
còn lại là các nhà phân phối và sản xuất giữ 90%.
Tiếp theo là công nghệ thông tin ngày càng phát triển, cung cấp các nguồn
hàng và đơn hàng nhanh chóng, quá trình đàm phán và kí kết hợi đồng được
diễn ra trong thời gian ngắn và mang lại hiệu quả cao. Việc ứng dụng thương
Chuyên đề tốt nghiệp
mại điện tử trong hoạt động dịch vụ hậu cần vật tư rõ ràng tạo ra những giá trị
mới mà trong cách truyền thống không thể có được.
Cuối cùng là sự gia tăng sử dụng vi tính trong doanh nghiệp. Hiện nay các
doanh nghiệp chuyển sang áp dụng JIT( just in time).
Trên đây là các nguyên nhân cơ bản thúc đẩy sự ra đời và phát triển tất yếu của
dịch vụ hậu cần vật tư.Khi xã hội có sự biến đổi, muốn tối ưu quá trình sản xuất vật
chất, giờ đây không thể chỉ chú trọng vào khâu sản xuất mà cần phải quan tâm phát
triển dịch vụ hậu cần vật tư, kết hợp các yếu tố có liên quan trong hoạt động logistics
đến để tạo thành dòng chảy liên tục, rút ngắn vòng quay của vật tư, giảm tối đa chi
phí giao thông vận tải, mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi nhuận hơn.
Sức lao động, vật tư và vốn là đầu vào cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của mỗi doanh nghiệp, để đạt được mục tiêu ngắn hạn cũng như dài hạn,
doanh nghiệp cần tiến hành sản xuất kinh doanh liên tục, ổn định. Muốn vậy doanh
nghiệp cần đảm bảo vật tư đủ về số lượng, đúng về chất lượng và chủng loại, kịp thời
về mặt thời gian. Vì vậy đảm bảo vật tư là một nhu cầu khách quan, tất yếu, là điều
kiện cần thiết cho mọi nền sản xuất kinh doanh của toàn xã hội.
2.2 Vai trò của dịch vụ hậu cần vật tư đối với các doanh nghiệp.
Hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm nhiều bước, nhiều khâu kế tiếp nhau,
mỗi khâu đều có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời .Hoạt động sản xuất kinh
doanh được ví như một dây xích mà trong đó mỗi khâu của hoạt động sản xuất chính
là một mắt xích của sợi dây,chúng kết hợp với nhau giúp cho bộ máy kinh doanh của
các doanh nghiệp quay nhanh trong nền kinh tế thị trường.
Công tác hậu cần vật tư, mua sắm các yếu tố đầu vào cho sản xuất là hoạt động
đầu tiên trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đó là “mắt
xích” điều kiện cần cho mọi doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh tạo ra
sản phẩm lưu thông buôn bán thu lợi nhuận. Bất kì quá trình sản xuất kinh doanh sử
dụng công nghệ sản xuất hiện đại đến đâu cũng cần phải có vật tư thì mới có thể sản
xuất ra sản phẩm. Vì vậy trước hết đảm bảo vật tư tức là đảm bảo điều kiện đầu vào
cho sản xuất. Mặt khác đảm bảo đầy đủ, chính xác, kịp thời, đồng bộ các yếu tố đầu
Chuyên đề tốt nghiệp
vào cho sản xuất sẽ đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường
và đạt hiệu quả cao, quyết định đến khả năng tái sản xuất mở rộng.
Sản phẩm là kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh nhưng đồng thời nó lại là
cơ sở để thực hiện thương mại đầu ra với hai tác động cơ bản. Thứ nhất, chất lượng
của yếu tố vật tư kĩ thuật sẽ tác động đến chất lượng của sản phẩm đầu ra.
Xem xét đến các yếu tố tạo dựng lên uy tín thương hiệu của một doanh nghiệp
trên thị trường thì yếu tố chất lượng luôn là yếu tố cốt lõi, cơ bản nhất tạo danh tiếng
cho bất kì một doanh nghiệp nào. Dịch vụ và thái độ phục vụ của doanh nghiệp có
cao đến đâu, nhưng sản phẩm cung cấp chất lượng kém cũng không thể giữ chân
khách hàng về lâu dài cho doanh nghiệp. Mặt khác, người tiêu dùng với ngân sách
tiêu dùng có hạn, họ luôn tìm mọi cách để tối đa hóa lợi ích tiêu dùng của mình.
Họ luôn đòi hỏi các sản phẩm phải thỏa mãn được một nhu cầu nào đó, yếu tố
mà họ luôn quan tâm đó là giá cả và chất lượng sản phẩm. Qua phân tích có thể thấy
rõ vai trò của dịch vụ hậu cần vật tư cho sản xuất đối với doanh nghiệp, ngoài việc
giúp tạo dựng thương hiệu cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ hậu cần vật tư còn
giúp tăng độ thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của doanh nghiệp và gián tiếp thỏa mãn nhu
cầu của khách hàng. Khi đóng vai trò là đối tượng lao động chủ yếu là nguyên vật
liệu, vật tư sẽ ảnh hưởng đến việc sử dụng hợp lý tiết kiệm nguyên vật liệu, góp phần
sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh. Chi phí cho vật tư chiếm 60% đến 70% trong cơ
cấu giá thành sản phẩm, sử dụng hiệu quả vật tư và có các biện pháp thúc đẩy dịch
vụ hậu cần vật tư cho sản xuất sẽ góp phần hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả
công tác hậu cần đầu vào cho sản xuất, và từ đó góp phần nâng cao sức cạnh tranh
của doanh nghiệp.
Với tư cách là tư liệu lao động, vật tư kĩ thuật với bộ phận chủ yếu là máy móc
thiết bị, thể hiện trình độ trang bị kĩ thuật cho sản xuất, thể hiện công nghệ mà doanh
nghiệp sử dụng, mức độ hiện đại và công suất của trang thiết bị. Đây là nhân tố nhằm
nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm sản xuất đáp ứng nhu cầu của khách
hàng. Làm tốt công tác dịch vụ hậu cần vật tư trong sản xuất giúp cho việc phát triển
Chuyên đề tốt nghiệp
và mở rộng hơn nữa quy mô kinh doanh và tái sản xuất mở rộng của các doanh
nghiệp.
Dịch vụ hậu cần vật tư trong sản xuất của bất kì một doanh nghiệp nào cũng
đóng vai trò vô cùng quan trọng. Đây là hoạt động bổ trợ cho hoạt động hậu cần đầu
vào mang tính chất quyết định cho toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Chi phí cho mua sắm vật tư là chi phí lớn nhất trong toàn bộ giá
thành sản phẩm. Chính vì thế việc nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp thông
qua hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng và thương hiệu của doanh nghiệp
phải thông qua việc phát triển và hoàn thiện các dịch vụ hậu cần của doanh nghiệp.
Hoàn thiện hay phát triển dịch vụ hậu cần vật tư hiện nay đang được các doanh
nghiệp vô cùng chú trọng theo hướng giảm chi phí vận tải và giao nhận vật tư, cung
cấp đầy đủ, kịp thời, đồng bộ vật tư cho sản xuất, sử dụng vật tư hiệu quả và tiết
kiệm.
Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào hoạt động hậu
cần vật tư, bất kỳ một sự chậm trễ nào về mặt thời gian và không đồng bộ về chủng
loại chất lượng, không đảm bảo cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp cũng có thể
gây ra sự ngừng trệ sản xuất, gây ra các xung đột do vi phạm hợp đồng mất đi các
quan hệ kinh tế đã được thiết lập, làm mất uy tín thương hiệu và mất đi hình ảnh của
doanh nghiệp, gây tổn thất trong sản xuất kinh doanh. Dịch vụ hậu cần vật tư giúp
cho các hoạt động hậu cần đầu vào được thực hiện với mức độ hiệu quả cao nhất
thông qua các hoạt động hỗ trợ cho cung ứng vật tư như: giao thông vận tải, chuẩn bị
tài chính cho mua sắm, chuẩn bị vật tư đồng bộ cho sản xuất, chuẩn bị kho bãi cho
giao nhận…
2.3 Vai trò đối với nền kinh tế và xã hội
Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế và xã hội, sự phát triển lớn mạnh
của doanh nghiệp có vai trò to lớn trong các bước phát triển của xã hội. Để tìm cách
nâng cao lợi nhuận doanh nghiệp đã tiến hành khai thác và sử dụng các nguồn lực có
hạn hiệu quả và kinh tế nhất, không ngừng khai thác các biện pháp nhằm tối ưu hóa
Chuyên đề tốt nghiệp
các nhân tố trong và ngoài tiềm lực của doanh nghiệp. Sự phát triển đó đã góp phần
đáng kể trong sự tiến bộ và phồn thịnh của nền kinh tế và sự đi lên của xã hội.
Doanh nghiệp sử dụng một lượng lao động đáng kể, giải quyết vấn đề lao động
và giúp ổn định xã hội. Ngày nay nhu cầu về lao động có tay nghề cao đòi hỏi con
người cần phải nâng cao trình độ bản thân để theo kịp thời đại và đáp ứng được nhu
cầu của các doanh nghiệp.
Sản xuất là hoạt động cơ bản quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội,
là trung tâm của mọi hoạt động khác trong xã hội là hoạt động chính trong toàn bộ
hoạt động chung.
Trong xã hội mục đích sản xuất là để phục vụ tiêu dùng. Nhưng trong thời đại
ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đặc biệt là công nghệ thông tin đã
làm cho quá trình toàn cầu hóa và quốc tế hóa diễn ra mạnh mẽ hơn và sâu sắc hơn.
Dịch vụ hậu cần vật tư có vai trò to lớn trong phân phối vật chất của xã hội thông qua
quá trình mua sắm vật tư thiết bị phục vụ sản xuất của các doanh nghiệp. Phát triển
dịch vụ hậu cần vật tư góp phần giảm chi phí đầu vào, giảm thiểu được những rủi ro
trong kinh doanh, và giúp doanh nghiệp làm ăn ngày càng có lãi, mở rộng quan hệ sản
xuất kinh doanh cũng như các mối quan hệ kinh tế, góp phần trong việc thúc đẩy hiệu
quả kinh doanh và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
3. Ý nghĩa nghiên cứu công tác dịch vụ hậu cần vật tư trong sản xuất của các
doanh nghiệp.
Nghiên cứu công tác dịch vụ hậu cần vật tư trong sản xuất của các doanh
nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng. Hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh đều
nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận, nhưng làm thế nào để đạt được thành công trong
kinh doanh thì không phải doanh nghiệp nào cũng khai thác hết được các yếu tố.
Trong thời đại hiện nay khi mà công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, việc mở
rộng qui mô sản xuất và năng suất của máy móc hầu như đã được khai thác hết.
Trong khi việc chú trọng trong khâu hậu cần gần như chưa được các doanh nghiệp
quan tâm đúng mức. Trong phương án hậu cần vật tư, phương án về vận chuyển là
một phương án cố định, việc lựa chọn bạn hàng và giao dịch có lợi nhất chưa được
Chuyên đề tốt nghiệp
xem xét. Chi phí về vật tư và kĩ thuật chiếm từ 60% đến 70% giá thành sản phẩm,
trong đó chi phí vận tải chiếm 80% chi phí mua vật tư. Điều đó đặt ra thực tế rằng cần
phải tập trung giảm chi phí trong khâu hậu cần, cụ thể trong hậu cần vật tư của doanh
nghiệp.
Công tác hậu cần vật tư có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Hoạt động hậu cần vật tư cho sản xuất cần đáp ứng được bốn yêu cầu
cho sản xuất đó là: đúng về chất lượng, đủ về số lượng, kịp thời về mặt thời gian và
đồng bộ về mặt cơ cấu. Nâng cao hiệu quả của từng công tác trong chuỗi logistics đến
nhằm tăng hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy
tăng trưởng và mở rộng qui mô sản xuất.
Nghiên cứu dịch vụ hậu cần vật tư trong sản xuất của các doanh nghiệp để
hiểu rõ được các yếu tố hay nội dung của hoạt động hậu cần vật tư, thấy được vai trò
và tầm quan trọng của hoạt động này đối với doanh nghiệp và với xã hội. Có lí luận
đúng đắn về công tác hậu cần vât tư, từ đó có các biện pháp phát triển dịch vụ hậu
cần vật tư phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
II.Nội dung dịch vụ hậu cần vật tư và các loại dịch vụ hậu cần vật tư
trong sản xuất của các doanh nghiệp.
Hoạt động đảm bảo vật tư cho sản xuất là một hoạt động dịch vụ phục vụ cho sản
xuất, đó là hoạt động đầu tiên trong toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Nội dung của dịch vụ mua sắm vật tư được mô tả khái quát qua sơ
đồ dưới đây:
Các hoạt động trong quá trình nêu trên có nội dung tương đối độc lập với nhau
nhưng giữa chúng có mối quan hệ với nhau. Kết quả của quá hoạt động trước là tiền
đề cho hoạt động tiếp theo. Phục vụ cho các hoạt động trên được diễn ra một cách
nhanh chóng, đúng tiến độ, kế hoạch và hiệu quả có sự hỗ trợ của các dịch vụ hậu cần
Xây dựng kế
hoạch yêu cầu
vật tư
Xây dựng và
thực hiện kế
hoạch mua vật
tư
Quản trị vật tư
trong nội bộ
doanh nghiệp
Đánh giá hoạt
động đảm bảo
vật tư
Chuyên đề tốt nghiệp
như: dịch vụ vận chuyển, dịch vụ tài chính cho mua sắm vật tư, dịch vụ kho tàng bảo
quản…
1. Nội dung của dịch vụ hậu cần vật tư cho sản xuất của các doanh nghiệp
1.1Xác định nhu cầu vật tư cho sản xuất của các doanh nghiệp
Đây là hoạt động đầu tiên trong chuỗi dịch vụ hậu cần cho sản xuất của
doanh nghiệp. Hoạt động này quyết định toàn bộ đến các hoạt động khác trong chuỗi
logistics đến của doanh nghiệp.
Xác định kế hoạch mua sắm vât tư nhằm trả lời cho ba câu hỏi: những danh
mục vật tư hàng hóa nào có nhu cầu? Số lượng nhu cầu của mỗi loại vật tư?phân phối
nhu cầu theo thời gian? Trên cơ sở kết quả của quá trình xác định nhu cầu vật tư
người ta sẽ tiến hành lập các kế hoạch và tổ chức mua sắm vật tư phục vụ cho hoạt
động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp.
1.1.1. Nhu cầu vật tư là gì và các đặc trưng cơ bản.
Nhu cầu là thuật ngữ dùng để chỉ cảm giác thiếu hụt một thứ gì đó mà con
người cảm nhận được. Nhu cầu của con người vô cùng đa dạng và phức tạp, bao gồm
nhiều thứ bậc. Chỉ khi các nhu cầu ở bậc thấp được thỏa mãn thì con người mới xuất
hiện các nhu cầu ở bậc cao hơn. Nhìn chung nhu cầu hàm chứa ba mức độ: nhu cầu tự
nhiên, mong muốn và nhu cầu có khả năng thanh toán (hay nhu cầu hiện thực).Trong
đó nhu cầu có khả năng thanh toán là nhu cầu ở mức cao nhất. Nhu cầu có khả năng
thanh toán là những mong muốn có khả năng trở thành hiện thực nếu như có sản
phẩm thỏa mãn được nhu cầu. Nhu cầu có khả năng thanh toán là nhu cầu mà các
nhà sản xuất kiếm tìm và tìm mọi cách để thỏa mãn nó. Trong doanh nghiệp nhu cầu
về vật tư kỹ thuật cho sản xuất là một nhu cầu có khả năng thanh toán và phải được
thỏa mãn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vậy nhu cầu vật tư là những nhu cầu thiết yếu về nguyên nhiên vật liệu, thiết bị
máy móc để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nhất định. Doanh nghiệp mua
sắm vật tư chính là hoạt động đầu tư nhằm mục đích sinh lời. Vật tư cũng là một loại
hàng hóa, do đó hoạt động mua sắm vật tư có những đặc điểm của nhu cầu hàng hóa
và dịch vụ nói chung. Tuy nhiên có thể nói vật tư kỹ thuật là một loại hàng hóa đặc
Chuyên đề tốt nghiệp
biệt, điều khác nhau cơ bản giữa vật tư và hàng hóa tiêu dùng cá nhân thông thường
chính là ở mục đích sử dụng. Hàng hóa tiêu dùng là sản phẩm mà lao động của con
người tạo ra sử dụng cho mục đích phục vụ nhu cầu tiêu dùng của con người. Hàng
hóa tiêu dùng dùng cho mục đích cá nhân và không tạo ra giá trị mới trong quá trình
sử dụng, hàng hóa tiêu dùng cá nhân sau khi tiêu dùng không còn tồn tại trở lại trên
thị trường. Hàng hóa tiêu dùng cá nhân có đặc trưng cơ bản đó là khi phân loại căn cứ
chủ yếu vào thói quen mua hàng của người tiêu dùng. Mua sắm vật tư lại dựa trên
việc xác định nhu cầu hàng hóa của khách hàng trên trị trường hoặc tham gia vào quá
trình quản lý điều hành của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó doanh nghiệp sẽ tiến hành
mua sắm vật tư kỹ thuật để phục vụ cho các mục đích trên. Do đặc điểm của tư liệu
sản xuất và đặc điểm của vật tư tiêu dùng nên sự vận động của cầu vật tư và sự vận
động của cầu tiêu dùng có sự khác biệt với nhau.
Nhu cầu vật tư mang tính khách quan phản ánh yêu cầu sản xuất về một loại vật
tư nhất định. Nhu cầu vật tư là nhu cầu về hàng hóa công nghiệp nên hầu như không
có sự co dãn về cầu. Quá trình đảm bảo vật tư cho sản xuất phụ thuộc vào quy trình
sản xuất, công nghệ và tiềm lực tài chính, giá cả và cung cầu trên thị trường. Nhu cầu
vật tư có các đặc trưng cơ bản sau:
- Nhu cầu vật tư liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Nhu cầu được hình thành trong lĩnh vực sản xuất vật chất.
- Tính thay thế lẫn nhau.
- Tính xã hội.
- Tính bổ sung lẫn nhau .
- Tính đa dạng , nhiều vẻ .
- Nhu cầu vật tư có tính khách quan.
Do các đặc trưng cơ bản trên nên công tác xây dựng nhu cầu vật tư là vô cùng
quan trọng , phức tạp và khó khăn. Việc xác định đúng đắn nhu cầu vật tư cho sản
xuất của doanh nghiệp đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục,
ổn định và phát triển. Hỗ trợ cho hoạt động này là các hoạt động của dịch vụ hậu cần
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét