Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014
Hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính khách hàng tại sở giao dịch ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam
2
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Nghiên cứu lý luận chung về phân tích tài chính khách hàng trong
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động công tác phân tích tài chính
khách hàng tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện phân tích tài
chính khách hàng tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối t
ượng nghiên cứu: Công tác phân tích tài chính khách hàng trong
quá trình hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào phân tích tài chính khách hàng
doanh nghiệp tại Sở giao dịch ngân hàng Ngoại thương Việt nam từ năm 2006
đến năm 2009.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Dựa vào lý thuyết về phân tích tài chính khách hàng và tình hình phân
tích tài chính khách hàng doanh nghiệp tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam cùng với các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh,
tổng hợp, trên cơ sở đó
đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân
tích tài chính khách hàng tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
3. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục bảng biểu, danh mục
tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hoạt động phân tích tài chính khách hàng
của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động phân tích tài chính khách hàng t
ại Sở
giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện phân tích tài chính khách hàng tại Sở
giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÂN
TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG TẠI NHTM
1.1 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.
1.1.1. Những vấn đề cơ bản về ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về ngân hàng (NH), một khái niệm
phổ biến nhất theo sách Quản trị ngân hàng thương mại của Peter S.Rose:
Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh
toán - và th
ực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức
kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Ở Việt Nam (VN), khái niệm NH được định nghĩa trong Luật các Tổ
chức tín dụng (TCTD) năm 1997 và được sửa đổi bổ sung năm 2004 như sau
"Ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động NH và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt
động, các loại hình NH gồm Ngân hàng thương mạ
i, Ngân hàng phát triển,
Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại
hình ngân hàng khác". Trong số các loại hình NH kể trên thì Ngân hàng
thương mại (NHTM) chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và
số lượng.
Theo Nghị định số 59/2000/NĐ-CP ngày 16/07/2009 của Chính phủ về
tổ chức và hoạt động của NHTM thì: NHTM là NH được được thực hiện toàn
bộ hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu
lợi nhuậ
n, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước. Trong đó,
hoạt động NH là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH với nội dung
thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền đó để cho vay và cung ứng
4
các dịch vụ thanh toán.
1.1.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM
-
Mua bán ngoại tệ
:
Là hoạt động ngân hàng đúng ra mua bán một loại
tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Ngày nay đây là hoạt
động rất thường xuyên của ngân hàng thương mại .
- Nhận tiền gửi: Đây là một trong những hoạt động đặc trưng của
NHTM,ngân hàng huy động các khoản tiết kiệm,tiền gửi thanh toán, để tạo ra
nguồn vốn thực hiện các nghiệp vụ cho vay.
- Cho vay: Đây là hoạt động chủ yếu của NHTM và mang tính sinh lời
cao. Với vai trò là trung gian tài chính, ngân hàng thực hiện hoạt động huy
động tiền gủi sau đó cho các cá nhân, tổ chức vay vốn và hưởng khoản chênh
lệch lãi suấ
t. Hoạt động này đang ngày càng phát triển phong phú, đa dạng
với nhiều hình thức sản phẩm khác nhau trong cuộc cạnh tranh mạnh mẽ giữa
các NHTM hiện nay.
- Bảo quản vật có giá: Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và
các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản. Ngân hàng làm giấy
biên nhận và thu phí khách hàng. Đây là hoạt động phát triển từ khá lâu, tuy
nhiên hiện nay chỉ một số ngân hàng thực hiện nghiệp vụ này.
- Cung cấp các tài khoản giao dịch và th
ực hiện thanh toán: Hoạt động
này ngày càng phát triển hiện nay. Ngoài việc ngân hàng nhận tiền gửi tiết
kiệm cho các tổ chức kinh tế thì ngân hàng đồng thời cũng thực hiện các lệnh
chi trả cho khách hàng của họ. Thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho
thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần đến ngân
hàng lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách. Các tiện ích của thanh
toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệ
m, chi phí)
đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho kinh
doanh và nâng cao thu nhập cho các doanh nhân. Hiện nay cùng với sự phát
5
triển của công nghệ thông tin ngày càng hiện đại đã tạo ra bước đột phá quan
trọng cho hoạt động thanh toán trong ngân hàng, đem lại nhiều tiện ích cũng
như mở rộng phạm vi giao dịch không chỉ trong nước mà liên thông ra cả
quốc tế. Điều này đem lại nhiều bước phát triển đáng kể cho ngành công
nghiệp ngân hàng, mang lại cho ngành ngân hàng nhiều dịch vụ mới tăng sự
cạnh tranh trong hoạt độ
ng tài chính tiền tệ hơn so với các trung gian tài chính
khác.
- Quản lý ngân quỹ: Đây cũng là hoạt động khá mới mẻ đối với ngân
hàng. Do tính chuyên môn cũng như kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính, do
đó các ngân hàng có khả năng thực hiện việc quản lý ngân quỹ cho khách
hàng, đồng thời có thể tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào
các chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần
ti
ền mặt để thanh toán.
- Tài trợ cho các hoạt động của chính phủ: Ngân hàng thường có khả
năng huy động vốn và cho vay với khối lượng lớn, do đó các chính phủ
thường tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng trong trường hợp có nhu cầu cấp
bách về chi tiêu. Thường ngân hàng và chính phủ có mối quan hệ chặt chẽ lẫn
nhau. Chính phủ một số nước thường thực hiện những chính sách điều tiết
đối
với ngân hàng Trung Ương và ngược lại các ngân hàng thực hiện một số
những nghĩa vụ đối với chính phủ như: mua trái phiếu chính phủ, cho vay ưu
đãi các DNNN.
- Bảo lãnh: Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng
là rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên ngân
hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng. Nghiệp vụ này không cần vốn
mà vẫn thu phí dịch vụ cao, tạo nguồn thu nhập lớn cho ngân hàng .
- Leasing: Với mục đích bán
được các thiết bị, đặc biệt là các thiết bị có
giá trị lớn, nhiều hãng sản xuất và thương mại đã cho thuê hoặc bán các thiết
6
bị.Nắm bắt được nhu cầu vay vốn để mua trang thiết bị của nhiều doanh
nghiệp, ngân hàng thực hiện nghiệp vụ này với tư cách ngân hàng là người
mua thiết bị và cho khách hàng thuê.
- Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn: Ngân hàng là hoạt động mà có rất
nhiều chuyên gia trong hoạt động tài chính, do đó rát nhiều khách hàng đến
với ngân hàng nhờ ủy thác thực hiện các nghĩa vụ tài chính, hoặc là nhờ ngân
hàng tư v
ấn về các vấn đề tài chính.
- Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: Hoạt động chứng
khoán đang là trong những hoạt động sôi động nhất trong lĩnh vực tài chính
tiền tệ. Với nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng trên sàn chứng khoán thì
những chuyên gia tài chính, ngân hàng sẵn sàng tư vấn cho khách hàng tiến
hành mua, bán cổ phiếu, trái phiếu kiếm lời.
- Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm: Thường đây là dịch vụ
kết hợp của
ngân hàng với các công ty bảo hiểm khi tiến hành bán bảo hiểm cho các
khách hàng đang giao dịch với ngân hàng. Hoạt động này giúp cho khách
hàng tránh một số rủi ro trong khả năng thanh toán, rủi ro trong hoạt động
kinh doanh .
- Cung cấp các dịch vụ đại lý: Một số ngân hàng ở nước ngoài hoặc
trong nước không có chi nhánh hoặc văn phòng đại diện thì có thể yêu cầu
một ngân hàng khác cung cấp dịch vụ cho mình với tư cách là ngân hàng đại
lý như: thanh toán h
ộ, thu hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi…
1.1.2 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại:
1.1.2.1 Khái niệm.
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh là credo (tín tưởng, tín
nhiệm). Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều
nghĩa khác nhau; ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh củ
thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính, tín
dụng có thể hiểu theo các ngh
ĩa sau:
7
Tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa Ngân hàng và khách hàng
trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho khách hàng sử dụng trong một
thời gian nhất định theo thỏa thuận, khách hàng có trách nhiệm hoàn vốn gốc
và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Như vậy bản chất của tín dụng là
một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả.
Từ khái niệm trên tín dụng có ba đặc trưng cơ bản sau:
-Tín dụng có tính hoàn trả
Tín dụ
ng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên
tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là thuộc tính riêng của tín dụng. Vì vốn cho
vay của ngân hàng là vốn huy động và sau một thời gian thì ngân hàng phải
trả cho người ký thác.Và để duy trì sự hoạt động của mình thì ngân hàng phải
bỏ ra một khoản chi phí, do đó người vay vốn ngoài việc trả nợ gốc còn phải
trả cho ngân hàng một khoản lãi để bù đắp chi phí.
-
Tín dụng có tính thời hạn
Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn. Để đảm
bảo thu hồi nợ đúng hạn, ngân hàng thường xác định rõ thời gian cho vay.
Việc xác định thời hạn đó dựa vào: Quá trình luân chuyển vốn của đối tượng
vay và tính chất vốn của khách hàng vay.
-Tín dụng có tính tín nhiệm, tin tưởng
Tín dụng là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ
sở lòng tin. Ở
đây ngân hàng tin tưởng khách hàng vay sử dụng vốn vay có hiệu quả sau một
thời gian nhất định và do đó có khả năng trả được nợ.
1.1.2.2 Phân loại tín dụng ngân hàng theo hình thức cấp vốn:
Tín dụng ngân hàng là một hoạt động rất rộng trong ngân hàng, và do
đó nó có rất nhiều hình thức tín dụng và do đó nó cũng có rất nhiều cách phân
loại khác nhau. Tuy nhiên phân loại tín dụng theo hình thức cấp vốn là rõ
ràng và thông dụng hơn cả
. Theo cách phân loại này nó gồm có 4 loại cơ bản
như sau:
8
- Cho Vay: là việc ngân hàng cấp vốn cho khách hàng với cam kết
khách hàng sẽ hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Cho vay
là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM để tạo ra lợi nhuận, là khoản
mục tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất trong khoản mục tín dụng. Lãi suất cho
vay phải bù đắp được chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và
quản lý, chi phí vốn, chi phí thuế và các chi phí rủi ro đầu tư. Cho vay bao
g
ồm những phương thức sau:
+ Cho vay theo trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay tương đối phổ
biến của ngân hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên,
không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi.
+ Thấu chi: là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay
được chi trội trên số tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định
(hạn mức thấu chi) và trong khoảng th
ời gian xác định. Đây là hình thức tín
dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản phần lớn là không có bảo đảm, sử
dụng cho những khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu
nhập ngắn.
+ Cho vay theo hạn mức: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng
thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể
tính cho cả kỳ hoặc cuố
i kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính.
+ Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của
hàng hóa. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng cho vay để
mua và thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng.
- Chiết khấu thương phiếu: là việc ngân hàng ứng trước cho giá trị một
thương phiếu đổi lấy việc chuyển giao quyền sở hữu thương phiếu.Thương
phiếu được hình thành chủ y
ếu từ quá trình mua bán chịu hàng hóa và dịch vụ
giữa khách hàng với nhau. Thương phiếu được lập, người mua ký và cam kết
trả tiền cho người thụ hưởng khi thương phiếu đến hạn và giao thương phiếu
9
cho người bán (người thụ hưởng). Trong thời hạn có hiệu lực của thương
phiếu, người bán có thể mang đến ngân hàng để xin chiết khấu. Ngân hàng
kiểm tra độ an toàn của thương phiếu, giao tiền cho người bán và nắm giữ
thương phiếu. Ngân hàng có thể yêu cầu người bán ký hậu vào thương phiếu,
cam kết trả tiền cho ngân hàng nếu người mua không trả. Đến hạn ngân hàng
chuyển nhượng phiếu đến ngườ
i mua đòi tiền. Trong trường hợp người mua
không trả thì ngân hàng có quyền đòi tiền các bên ký hậu trên thương phiếu.
- Cho thuê tài chính.Thuê mua là một sự thỏa thuận trong đó người cho
thuê chuyển cho người đi thuê quyền sử dụng một loại tài sản trong một thời
gian nhất định.
Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại là cho vay để khách
hàng mua tài sản. Có nhiều trường hợp khách hàng không đủ điều kiện
để
vay vốn ngân hàng. Ngân hàng đã mua các tài sản theo yêu cầu của khách
hàng để khách hàng thuê. Vì tài sản cho thuê thuộc sở hữu của ngân hàng
nên ngân hàng có quyền thu hồi để bán hoặc cho người khác thuê khi người
thuê không trả nợ được. Có hai hình thức thuê: Cho thuê nghiệp vụ và cho
thuê tài chính. Cho thuê nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu cho thuê trong thời
gian ngắn, người đi thuê không có dự định mua tài sản đó để sử dụng lâu
dài. Hình thức này không phải là hoạt động tín dụng. Cho thuê tài chính là
hoạt độ
ng cho thuê chủ yếu của NHTM, đáp ứng nhu cầu thuê trong thời
gian dài và người đi thuê có quyền mua lại tài sản khi hết hạn hợp đồng
thuê. Đây chính là hình thức cho thuê trung và dài hạn và hình thức này
thuộc hoạt động tín dụng.
- Bảo lãnh.
Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng(
bên bảo lãnh ) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa
vụ tài chính thay cho khách hàng (bên đượ
c bảo lãnh) khi khách hàng không
10
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo
lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã
được trả thay.
Bảo lãnh thường có 3 bên: Bên hưởng bảo lãnh, bên được bảo lãnh và
bên bảo lãnh. Bảo lãnh của ngân hàng có nghĩa ngân hàng là bên bảo lãnh,
khách hàng của ngân hàng là người được bảo lãnh, và người hưởng bảo lãnh
là bên thứ ba.
1.1.2.3 Quy trình nghiệp vụ tín d
ụng trong NHTM
Toàn bộ quy trình nghiệp vụ cho vay của Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam đối với khách hàng được chia thành 4 giai đoạn chính
- Giai đoạn 1: Quy trình xét duyệt vay.
Bước 1: Nhận và kiểm tra hồ sơ vay vốn của khách hàng.
Bước 2: Thẩm định cho vay.
Bước 3: Quyết định cho vay.
- Giai đoạn 2: Quy trình phát tiền vay.
Bước 1: Hướng dẫn, nhận hồ sơ phát tiền vay.
Bước 2: Xét duyệt phát tiền vay.
Bước 3: Thực hiện phát ti
ền vay.
- Giai đoạn 3: Quy trình kiểm tra và sử dụng vốn vay.
Bước 1: Xây dựng kế hoạch kiểm tra sử dụng vốn vay.
Bước 2: Thực hiện kiểm tra sử dụng vốn vay.
Bước 3: Lập biên bản và/hoặc báo cáo kết quả kiểm tra sử dụng
vốn vay.
- Giai đoạn 4: Quy trình thu hồi nợ vay.
Bước 1: Đôn đốc thu hồi nợ gốc và nợ lãi khi đến hạn.
Bước 2: Thự
c hiện thu nợ.
Bước 3: Chuyển nợ quá hạn.
11
1 2. Nội dung PTTCKH của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm và vị trí của PTTCKH trong quy trình tín dụng.
1.2.1.1 Khái niệm.
Phân tích tài chính khách hàng (PTTCKH) đối với ngân hàng thương
mại là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ cho phép thu thập
xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác nhằm đánh giá tình hình tài
chính khả năng và tiềm lực của khách hàng giúp ngân hàng đưa ra quyết định
tài trợ.
1.2.1.2 Vị trí.
Hầu hết quá trình cho vay bắt đầu từ việc gặp gỡ giữa nhân viên ngân
hàng và khách hàng để xác định lý do xin vay hay nhu cầu vay vốn.
Sau đó cán bộ ngân hàng phải thu thập những tài liệu cần thiết cho
quá trình phân tích khách hàng như các báo cáo tài chính. Nhân viên phân
tích tín dụng phải thực hiện một loạt phân tích nhằm mục đích đánh giá
tình hình hoạt động của doanh nghiệp, tình hình tài chính gọi là phân tích
tín dụng Ví dụ nhân viên ngân hàng phải phân tích khách hàng, phân tích
dự án vay vốn, phân tích tài sản đảm bảo và phân tích nguồn vốn của KH.
Trong đó phân tích khách hàng được chia thành PTTCKH khách hàng và
phân tích các yếu tố phi tài chính. Như vậy PTTCKH ch
ỉ là một bộ phận
trong quá trình phân tích tín dụng.
- Phân tích các yếu tố phi tài chính là phân tích về các yếu tố như:
+ Quy mô hoạt động của khách hàng (vốn, số lượng lao động, doanh
thu…).
+ Trình độ quản lý của khách hàng (năng lực điều hành, khả năng xử lý
các vấn đề như bãi công, hệ thống kiểm soát nội bộ…).
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét