Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Cty Bóng đèn Phích nước Rạng Đông

Luận văn tốt nghiệp Trờng ĐH Kinh
tế Quốc dân
lợi do năng suất của các doanh nghiệp tăng lên tạo ra. Hơn 200 năm sau thời
Adam Smith, quan điểm cho rằng cạnh tranh có thể nâng cao năng suất làm cho
xã hội đợc lợi ăn sâu vào toàn bộ lý luận kinh tế phơng Tây. Cạnh tranh đợc coi
là động lực giảm giá sản phẩm, cải tiến chất lợng sản phẩm và sáng tạo ra sản
phẩm mới. Trong nền kinh tế tri thức, tầm quan trọng của cạnh tranh không
thay đổi, hơn nữa còn quan trọng hơn rất nhiều.
Có thể nói rằng, công nghiệp truyền thống thiên về thống nhất hoá, nền
nếp hoá và tổ chức hoá sản phẩm. Mỗi loại sản phẩm đều là một điểm của
không gian sản phẩm đa hệ. Trong tác phẩm lý luận tổ chức ngành của
mình, Taylor dùng khái niệm không gian sản phẩm để mô tả tính chất phong
phú của sự khác nhau của sản phẩm. Do đó, trong không gian đã định sẵn ấy,
cạnh tranh có nghĩa là làm cho hàng hoá lu thông nhanh, bằng cách làm thay
đổi những hàm số sản xuất tức là hoặc tích cực tăng đầu vào trong điều kiện
giá thành đã ấn định sẵn hoặc tận sức giảm giá thành trong điều kiện đầu ra đã
ấn định sẵn để tối đa hoá lợi nhuận.
Trong nền kinh tế tri thức, cạnh tranh không còn chỉ đơn thuần là thay
đổi hàm số sản xuất và mở rộng thị phần, mà là cạnh tranh mở rộng không
gian sinh tồn, là t bản hoá giá trị thời gian của các cá nhân ngời tiêu dùng
trong không gian thị trờng mới. Không gian này lấy tăng trởng bền vững,
chuyên môn hoá ở trình độ cao và sáng tạo ra hệ thống sinh thái con làm đặc tr-
ng. Doanh nghiệp cạnh tranh không gian, cạnh tranh thị trờng là cạnh tranh t
bản.
Lý luận về kinh tế tri thức đợc xây dựng trên cơ sở lý luận sinh vật học,
cho rằng nền kinh tế tri thức mãi mãi ở bên lề thời gian, phát triển không ngừng,
kết cấu kinh tế thờng xuyên sắp xếp lại. Kinh tế tri thức lấy ngành nghề kỹ
thuật cao làm trụ cột. Do vậy, việc hiểu biết sản phẩm của mình thuộc hệ sinh
thái nào là việc hết sức quan trọng, thành công hay thất bại không chỉ do bản
thân doanh nghiệp quyết định mà còn do mạng lới của nó có thành công hay
không quyết định. Muốn có lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng, doanh
nghiệp phải nắm bắt thời cơ và phơng pháp xây dựng hệ thống sinh thái, có thể
Sinh viên: Lê Quốc Uy
Lớp: Thơng mại 42B
Luận văn tốt nghiệp Trờng ĐH Kinh
tế Quốc dân
điều chỉnh hớng bay trong quá trình phát triển và cải tiến. Hệ thống sinh thái
mới đòi hỏi ngời lao động có khả năng vợt lên trên tổ chức truyền thống và giới
hạn văn hoá để hình thành quan điểm cạnh tranh vợt qua giới hạn doanh nghiệp,
ngành và quốc gia. (F. Moore)
2. Vai trò của cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh có vai trò vô cùng quan trọng, nó
đợc coi là động lực của sự phát triển không chỉ của mỗi cá nhân, mỗi doanh
nghiệp mà cả nền kinh tế nói chung.
2.1. Đối với doanh nghiệp
Đối với mỗi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị tr-
ờng, cạnh tranh có những vai trò sau:
Cạnh tranh đợc coi nh là cái sàng để lựa chọn và đào thải những doanh
nghiệp. Vì vậy nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có vai trò cực
kỳ to lớn.
Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Cạnh tranh
tạo ra động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm
mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác marketing bắt đầu
từ việc nghiên cứu thị trờng để xác định đợc nhu cầu thị trờng từ đó ra các quyết
định sản xuất kinh doanh để đáp ứng các nhu cầu đó. Bên cạnh đó, doanh
nghiệp phải nâng cao các hoạt động dịch vụ cũng nh tăng cờng công tác quảng
cáo, khuyến mãi, bảo hành
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đa ra các sản phẩm có chất lợng
cao hơn để đáp ứng đợc nhu cầu thờng xuyên thay đổi của ngời tiêu dùng.
Muốn vậy, các doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật
mới vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cờng công tác quản lý, nâng cao
trình độ tay nghề của công nhân từ đó làm cho doanh nghiệp ngày càng phát
triển hơn.
2.2. Đối với ngời tiêu dùng
Sinh viên: Lê Quốc Uy
Lớp: Thơng mại 42B
Luận văn tốt nghiệp Trờng ĐH Kinh
tế Quốc dân
Có cạnh tranh, hàng hoá sẽ có chất lợng ngày càng tốt hơn, mẫu mã ngày
càng đẹp, phong phú đa dạng hơn để đáp ứng các yêu cầu của ngời tiêu dùng
trong xã hội. Vì vậy, đối với ngời tiêu dùng, cạnh tranh có các vai trò sau:
Ngời tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm
phù hợp với túi tiền và sở thích của mình.
Những lợi ích mà họ thu đợc từ hàng hoá ngày càng đợc nâng cao, thoả
mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ các dịch vụ kèm theo đợc quan
tâm nhiều hơn. Đó chính là những lợi ích mà ngời tiêu dùng có đợc từ việc nâng
cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.
2.3. Đối với nền kinh tế
Cạnh tranh đợc coi nh là linh hồn của nền kinh tế, vai trò của cạnh
tranh đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện ở những mặt sau:
Cạnh tranh là môi trờng, là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành
phần kinh tế trong nền kinh tế thị trờng, góp phần xoá bỏ những độc quyền, bất
hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh.
Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân
công lao động xã hội ngày càng xâu sắc.
Cạnh tranh thúc đẩy sự đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao của xã hội, kích thích nhu cầu phát triển, làm nảy sinh những nhu cầu mới,
góp phần nâng cao chất lợng đời sống xã hội và phát triển nền kinh tế.
Cạnh tranh làm nền kinh tế quốc dân vững mạnh, tạo khả năng cho doanh
nghiệp vơn ra thị trờng nớc ngoài.
Cạnh tranh giúp cho nền kinh tế có nhìn nhận đúng hơn về kinh tế thị tr-
ờng, rút ra đợc những bài học thực tiễn bổ sung vào lý luận kinh tế thị trờng của
nớc ta.
Bên cạnh những tác dụng tích cực, cạnh tranh cũng làm xuất hiện những
hiện tợng tiêu cực nh làm hàng giả, buôn lậu trốn thuế gây nên sự bất ổn trên
thị trờng, làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nớc và của ngời tiêu dùng.
Sinh viên: Lê Quốc Uy
Lớp: Thơng mại 42B
Luận văn tốt nghiệp Trờng ĐH Kinh
tế Quốc dân
Phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của cạnh
tranh không chỉ là nhiệm vụ của nhà nớc, doanh nghiệp mà là nhiệm vụ chung
của toàn bộ cá nhân.
II. Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trờng
1. Khái niệm về cạnh tranh và khả năng của một doanh nghiệp
1.1. Khái niệm về cạnh tranh
Trong cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp - các hoạt động sản xuất
kinh doanh đều đợc chỉ đạo từ trung ơng, từ trên xuống dới. Quan hệ cung cầu
cũng nh tất cả các quy luật của kinh tế thị trờng không đợc tồn tại theo đúng
nghĩa của nó. Quan hệ giữa các đơn vị kinh tế hầu nh không có mâu thuẫn về
lợi ích. Chính vì vậy mà cạnh tranh không có chỗ đứng trong nền kinh tế.
Thời điểm đánh đấu công cuộc đổi mới kinh tế ở nớc ta bắt đầu từ đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986). Từ đây cơ chế quản lý kinh tế
có bớc đổi mới cơ bản, nền kinh tế đã chuyển sang nền kinh tế thị trờng, cạnh
tranh xuất hiện. Đặc biệt từ khi nớc ta tham gia hội nhập nền kinh tế thế giới thì
cạnh tranh đợc nhìn nhận theo hớng tích cực hơn. Môi trờng cạnh tranh đợc mở
rộng trên cả thị trờng nội địa và thị trờng quốc tế.
Theo Mác: Cạnh tranh t bản chủ nghĩa (TBCN) là sự ganh đua, sự
đấu tranh gay gắt giữa các nhà t bản nhằm giành giật các điều kiện thuận lợi
trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu đợc lợi nhuận siêu ngạch. Nghiên
cứu sâu về nền sản xuất hàng hoá TBCN và cạnh tranh TBCN, Mác đã phát hiện
ra quy luật cạnh tranh cơ bản là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân
giữa các ngành.
Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992) ở Anh: Cạnh tranh trong
cơ chế thị trờng đợc định nghĩa là sự ganh đua kình địch giữa các nhà kinh
doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình.
Ngày nay trong nền kinh tế thị trờng cạnh tranh là một điều kiện và là
yếu tố kích thích kinh doanh, là môi trờng động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất
Sinh viên: Lê Quốc Uy
Lớp: Thơng mại 42B
Luận văn tốt nghiệp Trờng ĐH Kinh
tế Quốc dân
kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động tạo sự phát triển của xã hội nói
chung.
Nh vậy cạnh tranh là quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá, là
nội dung cơ chế vận động của thị trờng. Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng
hoá bán ra càng nhiều, số lợng nhà cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay
gắt, kết quả cạnh tranh sẽ tự loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả.
Nh vậy, hiểu theo một nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa
các chủ thể kinh doanh trong việc giành giật thị trờng và khách hàng.
1.2. Khái niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà
doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên
thị trờng cạnh tranh, đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng
tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực
hiện đợc những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra.
Nếu một doanh nghiệp tham gia thị trờng mà không có khả năng cạnh
tranh hay khả năng cạnh tranh yếu hơn các đối thủ của nó thì sẽ rất khó khăn để
tồn tại và phát triển đợc, quá trình duy trì sức mạnh của doanh nghiệp phải là
quá trình lâu dài và liên tục. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là cơ sở để
đảm bảo khả năng duy trì lâu dài sức mạnh cạnh tranh đó.
1.3. Các nhân tố tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đợc xác định dựa vào các u thế
cạnh tranh của nó. Ưu thế mạnh đợc hiểu là những đặc tính hoặc những thông
số của sản phẩm nhờ đó sản phẩm có đợc u việt, sự vợt trội hơn so với sản phẩm
của các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Các nhân tố tạo nên khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp bao gồm:
Uy tín: Đánh giá sự tin tởng của khách hàng vào doanh nghiệp, tạo đợc uy
tín tốt đối với khách hàng là cơ sở tạo nên sự quan tâm của khách hàng đến sản
phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.
Sinh viên: Lê Quốc Uy
Lớp: Thơng mại 42B
Luận văn tốt nghiệp Trờng ĐH Kinh
tế Quốc dân
Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu: ảnh hởng đến một loại sản phẩm với nhãn
hiệu cụ thể của doanh nghiệp.
Khả năng thích ứng: Là khả năng thích nghi với sự thay đổi của mô trờng
kinh doanh của doanh nghiệp để đảm bảo sự tồn tại và phát triển.
Sự linh hoạt, nhạy bén của những ngời quản lý doanh nghiệp: Sự nhạy bén
của những ngời quản lý doanh nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp
nắm bắt đợc các cơ hội sản xuất kinh doanh, cơ hội phát triển trên thị trờng.
Kinh nghiệm kinh doanh trên thơng trờng: Bao gồm những phơng pháp
chiến thuật, chiến lợc trong kinh doanh. Đây là một tài sản vô hình tạo nên lợi
thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Vị thế của doanh nghiệp trên thơng trờng: Đợc đánh giá trên cơ sở uy tín,
hình ảnh, thị phần Những doanh nghiệp có vị thế cao trên th ơng trờng rất
thuận lợi trong cạnh tranh. Những công ty này có khả năng đa dạng hoá sản
phẩm, phát triển thị trờng để nâng cao khả năng cạnh tranh.
Hệ thống đảm bảo nâng cao chất lợng sản phẩm, dịch vụ: Tiêu chuẩn chất
lợng mà doanh nghiệp áp dụng nhằm đảm bảo cho chất lợng sản phẩm của
mình. Qua việc áp dụng các tiêu chuẩn, hệ thống quản lý chất lợng sản phẩm,
dịch vụ làm cho khách hàng tin tởng khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ.
Lợi thế về vốn và chi phí: Đây là một nhân tố rất quan trọng khi sản phẩm
của các doanh nghiệp trên thị trờng là tơng đối đồng nhất thì việc giảm giá bán
là một biện pháp rất có hiệu quả để tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
2. Các yếu tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trờng
2.1. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
2.1.1. Nguồn nhân lực
Nhân lực là yếu tố quyết định đến sản xuất kinh doanh, nó bao gồm một
số nội dung chủ yếu sau:
Ban giám đốc doanh nghiệp
Sinh viên: Lê Quốc Uy
Lớp: Thơng mại 42B
Luận văn tốt nghiệp Trờng ĐH Kinh
tế Quốc dân
Là những cán bộ quản lý ở cấp cao nhất trong doanh nghiệp, những ngời
vạch ra chiến lợc, trực tiếp điều hành, tổ chức thực hiện công việc kinh doanh
của doanh nghiệp. Đối với những công ty cổ phần, những tổng công ty lớn,
ngoài ban giám đốc còn có hội đồng quản trị là đại diện cho các chủ sở hữu
doanh nghiệp quyết định phơng hớng kinh doanh của công ty.
Các thành viên của ban giám đốc có ảnh hởng rất lớn đến kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu các thành viên có trình độ,
kinh nghiệm và khả năng đánh giá, năng động, có mối quan hệ tốt với bên
ngoài thì họ sẽ đem lại cho doanh nghiệp không chỉ những lợi ích trớc mắt nh:
tăng doanh thu, tăng lợi nhuận mà còn uy tín lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp.
Đây mới là yếu tố quan trọng tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Đội ngũ cán bộ quản lý ở cấp doanh nghiệp
Là những ngời quản lý chủ chốt có kinh nghiệm công tác, phong cách
quản lý, khả năng ra quyết định, khả năng xây dựng ê kíp quản lý và hiểu biết
sâu rộng lĩnh vực kinh doanh sẽ là một lợi thế quan trọng cho doanh nghiệp.
Ngời quản lý làm việc trực tiếp với nhân viên cấp dới, với chuyên viên, vì vậy
trình độ hiểu biết của họ sẽ giúp họ nảy sinh những ý tởng mới, sáng tạo phù
hợp với sự phát triển và trởng thành của doanh nghiệp.
Các cán bộ quản lý ở cấp phân xởng, đốc công và công nhân
Trình độ tay nghề của công nhân và lòng hăng say nhiệt tình làm việc
của họ là yếu tố tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Bởi
khi tay nghề cao kết hợp với lòng hăng say nhiệt tình lao động thì nhất định năng
suất lao động sẽ tăng trong khi chất lợng sản phẩm đợc bảo đảm. Đây là tiền đề để
doanh nghiệp có thể tham gia và đứng vững trong cạnh tranh.
Muốn đảm bảo đợc điều này các doanh nghiệp phải tổ chức đào tạo và
đào tạo lại đội ngũ ngời lao động của mình, giáo dục cho họ lòng nhiệt tình
hăng say và tinh thần lao động tập thể.
2.1.2. Nguồn lực vật chất và tài chính
Sinh viên: Lê Quốc Uy
Lớp: Thơng mại 42B
Luận văn tốt nghiệp Trờng ĐH Kinh
tế Quốc dân
Khả năng tài chính của doanh nghiệp
Quyết định đến việc thực hiện hay không thực hiện bất cứ một hoạt động
đầu t, mua sắm hay phân phối của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có tiềm lực về
tài chính sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc đổi mới công nghệ, đầu t
trang thiết bị, đảm bảo nâng cao chất lợng, hạ giá thành nhằm duy trì và nâng
cao sức mạnh cạnh tranh, củng cố vị trí của mình trên thị trờng.
Máy móc thiết bị và công nghệ
Tình trạng máy móc thiết bị và công nghệ có ảnh hởng một cách sâu sắc
đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nó là yếu tố vật chất quan trọng bậc
nhất thể hiện năng lực sản xuất của mỗi doanh nghiệp và tác động trực tiếp đến
chất lợng sản phẩm, đến giá thành và giá bán sản phẩm.
Có thể khẳng định rằng một doanh nghiệp với một hệ thống máy móc
thiết bị và công nghệ tiên tiến cộng với khả năng quản lý tốt sẽ làm ra sản phẩm
có chất lợng cao, giá thành hạ từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh. Ngợc lại
không một doanh nghiệp nào mà đợc coi là có khả năng cạnh tranh cao trong
khi trong tay họ là cả một hệ thống máy móc thiết bị cũ kỹ với công nghệ sản
xuất lạc hậu.
Ngày nay việc trang bị máy móc thiết bị công nghệ có thể đợc thực hiện
dễ dàng, tuy nhiên doanh nghiệp cần phải biết sử dụng với quy mô hợp lý mới
đem lại hiệu quả cao.
Hệ thống mạng lới phân phối của doanh nghiệp
Mạng lới phân phối của doanh nghiệp đợc tổ chức, quản lý và điều hành
một cách hợp lý thì nó sẽ là một phơng tiện có hiệu quả để tiếp cận khách hàng.
Doanh nghiệp thu hút khách hàng bằng cách trinh phục (hình thức mua bán,
thanh toán, vận chuyển) hợp lý nhất.
2.2. Các nhân tố thuộc về môi trờng vĩ mô
2.2.1. Các nhân tố về chính trị pháp luật
Các nhân tố chính trị pháp luật có ảnh hởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp. Nó bao gồm hệ thống luật và các văn bản dới luật, các
Sinh viên: Lê Quốc Uy
Lớp: Thơng mại 42B
Luận văn tốt nghiệp Trờng ĐH Kinh
tế Quốc dân
công cụ chính sách của nhà nớc, tổ chức bộ máy điều hành của chính phủ và
các tổ chức chính trị xã hội.
Một thể chế chính trị ổn định, luật pháp rõ ràng, rộng mở sẽ là cơ sở cho
việc đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh
có hiệu quả. Ví dụ các luật thuế có ảnh hởng rất lớn đến cạnh tranh, đảm bảo sự
bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau và
trên mọi lĩnh vực; thuế xuất nhập khẩu cũng ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp sản xuất trong nớc.
Các yếu tố cơ bản của môi trờng thành phần này đợc lu ý là:
-Quan điểm, mục tiêu, định hớng phát triển xã hội và nền kinh tế của Đảng
cầm quyền.
-Chơng trình, kế hoạch triển khai thực hiện các quan điểm, mục tiêu của
chính phủ và khả năng điều hành của chính phủ.
-Mức độ ổn định chính trị xã hội
-Thái độ và phản ứng của các tổ chức xã hội, của các nhà phê bình xã hội.
-Thái độ phản ứng của dân chúng.
2.2.2. Các nhân tố về mặt kinh tế
Các nhân tố ảnh hởng chủ yếu là:
Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền trong nớc
Nhân tố này có tác động nhanh chóng và sâu sắc đối với từng quốc gia
nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng nhất là trong điều kiện trong nền kinh
tế mở. Nếu đồng nội tệ lên, giá cả của doanh nghiệp trong nớc giảm, khả năng
cạnh tranh ở nớc ngoài kém, khi đó giá bán của hàng hoá tính bằng đồng ngoại
tệ sẽ cao hơn của các đối thủ cạnh tranh. Hơn nữa, khi đồng nội tệ lên giá
khuyến khích nhập khẩu vì giá cả hàng nhập khẩu sẽ giảm và nh vậy khả năng
cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nớc sẽ bị giảm ngay trên thị trờng trong
nớc. Ngợc lại khi đồng nội tệ giảm giá, khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp tăng cả trên thị trờng trong nớc và thị trờng nớc ngoài vì khi đó giá bán
Sinh viên: Lê Quốc Uy
Lớp: Thơng mại 42B
Luận văn tốt nghiệp Trờng ĐH Kinh
tế Quốc dân
hàng hoá sẽ giảm hơn so với các đối thủ cạnh tranh kinh doanh hàng hoá do nớc
khác sản xuất.
Tốc độ tăng trởng
Tốc độ tăng trởng cao làm cho thu nhập của dân c tăng, khả năng thanh
toán của họ tăng dẫn đến sức mua tăng. Đây là cơ hội tốt cho các nhà doanh
nghiệp, nếu nhà doanh nghiệp nào nắm bắt đợc điều này và có khả năng đáp
ứng đợc nhu cầu khách hàng (về mặt số lợng, giá bán, chất lợng, mẫu mã) thì
chắc chắn doanh nghiệp đó sẽ thành công và có khả năng cạnh tranh cao.
Lãi suất cho vay của các ngân hàng
Nhân tố này cũng có ảnh hởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp bởi vì vốn vay trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp là không thể thiếu.
Khi lãi suất cho vay của ngân hàng cao dẫn đến chi phí của các doanh nghiệp
tăng lên do phải trả tiền vay lớn hơn, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
kém đi nhất là khi các đối thủ cạnh tranh có tiềm lực mạnh về vốn.
2.2.3. Môi trờng kinh tế và công nghệ
Nhóm các yếu tố này ngày càng quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến
môi trờng cạnh tranh, tác động một cách quyết định đến hai yếu tố cơ bản nhất
tạo nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trờng đó là chất lợng và giá
bán. Khoa học công nghệ tác động đến chi phí cá biệt của các doanh nghiệp,
qua đó tạo nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm nói riêng và khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp nói chung. Hiện nay trên thế giới đã chuyển từ cạnh
tranh về giá sang cạnh tranh về chất lợng, cạnh tranh giữa các sản phẩm và dịch
vụ có hàm lợng khoa học công nghệ cao.
Kỹ thuật và công nghệ mới sẽ giúp các cơ sở sản xuất trong nớc tạo ra đ-
ợc những thế hệ kỹ thuật và công nghệ tiếp theo nhằm trang bị và tái trang bị
toàn bộ cơ sở sản xuất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân, đây là tiền đề để các
doanh nghiệp ổn định và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
Các yếu tố quan trọng của môi trờng này bao gồm:
Sinh viên: Lê Quốc Uy
Lớp: Thơng mại 42B

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét