Nguyễn Phơng Thảo K9 QT2
- Hoạt động của doanh nghiệp thơng mại bao gồm các quá trình kinh tế, tổ
chức, kỹ thuật , nhng mặt kinh tế là chủ yếu và khách hàng đợc coi là trung
tâm của doanh nghiệp thơng mại
- Do nhu cầu của khách hàng rất đa dạng và phong phú nên phân công chuyên
môn hoá trong nội bộ doanh nghiệp cũng nh các doanh nghiệp thơng mại bị
hạn chế hơn nhiều so với các doanh nghiệp sản xuất.
- Trên phơng diện tổ chức kỹ thuật sự liên kết giữa các doanh nghiệp thơng mại
có vẻ khá lỏng lẻo, không giống nh các doanh nghiệp sản xuất. Tuy nhiên,
trên thực tế chúng lại có sự liên kết với nhau khá chặt chẽ thông qua các luật
bất thành văn. Hoạt động của mỗi doanh nghiệp thơng mại phụ thuộc vào sự
ảnh hởng của các yếu tố môi trờng đặc thù nh khách hàng, nhà cung cấp, đối
thủ cạnh tranh
Do có các đặc trng trên nên trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp phải xác định
cho mình hớng đi đúng đắn, cần phải tạo ra các lợi thế cho mình, tuân thủ các nguyên tắc
trong kinh doanh. Trong doanh nghiệp thơng mại thì việc tiêu thụ hàng hoá rất quan trọng,
chỉ khi tiêu thụ đợc hàng hoá thì doanh số bán hàng mới cao, từ đó, lợi nhuận thu về càng
nhiều hơn. Để làm đợc điều này thì việc cần làm là phục vụ cho nhu cầu của khách hàng
một cách tốt nhất vì khách hàng là nhân vật trung tâm quyết định đến việc tiêu thụ sản
phẩm nhiều hay ít. Cần phải tổ chức tốt mạng lới tiêu thụ hợp lý sao cho khách hàng đến
với sản phẩm của doanh nghiệp là nhiều nhất, từ đó, tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh
nghiệp.
2. Môi trờng kinh doanh của doanh nghiệp thơng mại.
Môi trờng kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các yếu tố tự nhiên, xã hội,
chính trị, kinh tế, tổ chức, kỹ thuật cùng với các tác động và mối quan hệ bên trong và bên
ngoài có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
2.1- Môi trờng kinh doanh bên ngoài.
Môi trờng kinh doanh đặc trng.
Ngời cung cấp: ngời cung cấp đối với doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng, nó
đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp đợc tiến hành ổn định theo kế hoạch đã định tr-
ớc. Nếu nguồn cung ứng không ổn định nó sẽ làm cho hoạt động kinh doanh bị gián đoạn
Quản trị doanh nghiệp 5 Đại học Mở Hà Nội
Nguyễn Phơng Thảo K9 QT2
và hiệu quả của quá trình hoạt động là rất thấp. Vì vậy, nên đa dạng hoá các nguồn, thực
hiện nguyên tắc "không bỏ tiền vào một ống".
Khách hàng: khách hàng luôn là nhân vật trung tâm của doanh nghiệp thơng mại,
khách hàng quyết định sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp đợc bán theo giá nào, quyết
định doanh nghiệp bán sản phẩm nh thế nào. Phơng thức bán hàng hoá và phơng thức
phục vụ khách hàng là do khách hàng lựa chọn vì trong cơ chế thị trờng phát triển, ngời
mua có quyền lựa chọn ngời bán theo ý thích của mình và đồng thời quyết định phơng
thức phục vụ của ngời bán.
Đối thủ cạnh tranh: doanh nghiệp luôn phải đối phó với nhiều đối thủ cạnh tranh.
Vấn đề đặt ra là làm sao thắng đợc đối thủ cạnh tranh, từ đó tăng thị phần tiêu thụ, nâng
cao hoạt động kinh doanh. Cạnh tranh có thể diễn ra trên nhiều mặt khác nhau nhng cạnh
tranh về khách hàng là chủ yếu. Để có đợc khách hàng, doanh nghiệp phải tìm cách làm ra
sản phẩm đẹp hơn, giá rẻ hơn, chất lợng tốt hơn , không những thế mà còn phải biết chiều
lòng khách hàng bằng các hoạt động nh: quảng cáo, khuyến mãi, tiếp thị
Cơ quan Nhà nớc: việc tác động của cơ quan Nhà nớc có thể mang ý nghĩa
khuyến khích, gây áp lực, hoặc đơn giản là việc kiểm tra, giám sát Một nhà quản trị giỏi
thờng không né tránh sự kiểm soát của cơ quan Nhà nớc về tất cả các vấn đề có liên quan
đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Môi trờng kinh doanh chung.
Là tất cả các lực lợng nằm ngoài tổ chức doanh nghiệp mặc dù không có liên quan
trực tiếp và rõ ràng đến doanh nghiệp nhng chúng lại có ảnh hởng mạnh mẽ tới nó. Các
yếu tố đó bao gồm: yếu tố kinh tế, chính trị, tự nhiên, xã hội, kỹ thuật, công nghệ
Môi trờng kinh tế: bao gồm các yếu tố về sự ổn định tăng trởng kinh tế, sức mua,
tỷ lệ lạm phát, sự thay đổi mức thu nhập, các chính sách tiền tệ , tất cả các yếu tố trên đều
ảnh hởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải theo dõi sự biến động
của môi trờng kinh tế để có giải pháp phù hợp.
Môi trờng chính trị, pháp luật: chính trị ổn định có lợi cho nền kinh tế phát triển.
Một hành lang pháp lý bao gồm các chính sách công cụ của Nhà nớc, tổ chức bộ máy và
cơ chế điều hành, giám sát của Chính phủ có ảnh hởng lớn đến sức tiêu thụ hàng hoá của
doanh nghiệp.
Quản trị doanh nghiệp 6 Đại học Mở Hà Nội
Nguyễn Phơng Thảo K9 QT2
Môi trờng tự nhiên: gồm hệ thống các yếu tố tự nhiên ảnh hởng nhiều mặt tới
nguồn lực đầu vào, từ đó ảnh hởng đến khâu tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp. Sự ô
nhiễm môi trờng, nguồn nớc, không khí, chất thải công nghiệp , là vấn đề nan giải cho
các nhà kinh doanh lúc này, ngời tiêu dùng đắn đo trong việc mua hàng nhất là với những
sản phẩm đòi hỏi độ an toàn về mặt sinh học cao và do vậy ảnh hởng lớn đến kết quả tiêu
thụ hàng hoá của doanh nghiệp.
Môi trờng công nghệ và kỹ thuật: là nhân tố ảnh hởng tới công nghệ mới sáng tạo
sản phẩm. Hiện nay, khoa học công nghệ phát triển đã tạo ra nhiều sản phẩm mới với chất
lợng cao, hàng hoá đa dạng và phong phú về chủng loại mẫu mã. Nh vậy, ngời tiêu dùng
có nhiều sự lựa chọn trong việc tiêu thụ hàng hoá, nhu cầu về hàng hoá cũng tăng lên vì
thế đẩy nhanh đợc quá trình tiêu thụ hàng hoá.
2.2- Môi trờng kinh doanh bên trong doanh nghiệp.
Môi trờng kinh doanh bên trong doanh nghiệp đợc hiểu là nền văn hoá của tổ chức
doanh nghiệp đợc hình thành và phát triển cùng với quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Nó bao gồm nhiều yếu tố thuộc về vật chất và các yếu tố thuộc về tinh thần.
Các yếu tố vật chất.
Mục tiêu của doanh nghiệp: bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải xây dựng
cho mình một mục tiêu. Mục tiêu đó phải chỉ rõ mục đích phấn đấu của doanh nghiệp
trong tơng lai và nó thờng đợc thể hiện thông qua các chỉ tiêu định lợng nh: doanh số,
mức tăng lợi nhuận, tỷ lệ tăng thị phần cũng có thể diễn đạt bằng các chỉ tiêu định tính
nh: chất lợng sản phẩm, dịch vụ, uy tín
Tiền vốn: vốn là tiền đề vật chất cần thiết cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhng vấn đề quan trọng là ngời quản trị phải biết sử dụng có hiệu quả đồng vốn đầu t của
mình, nó đợc phản ánh trên các chỉ tiêu sau: tốc độ hoàn trả vốn, hiệu quả sử dụng vốn, lợi
nhuận hàng năm thu đợc
Cơ sở vật chất kỹ thuật: phản ánh thực lực của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh
tranh về trang thiết bị hiện có đợc tận dụng và khai thác trong quá trình hoạt động nhằm
thực hiện mục tiêu đề ra.
Nhân sự: con ngời là yếu tố quyết định thành bại trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Bởi vậy, doanh nghiệp phải đặc biệt chú ý đến việc sử dụng nguồn lực con ngời,
Quản trị doanh nghiệp 7 Đại học Mở Hà Nội
Nguyễn Phơng Thảo K9 QT2
đào tạo nhân sự, xây dựng môi trờng văn hoá và nề nếp tổ chức của doanh nghiệp, đồng
thời doanh nghiệp phải quan tâm đến các chỉ tiêu cơ bản nh: số lợng lao động, trình độ
nghiệp vụ, năng suất lao động, năng lực cán bộ quản lý
Các yếu tố tinh thần.
Triết lý kinh doanh: nó là những t tởng đợc vận dụng vào sản xuất kinh doanh, là
một giá trị và mục tiêu nhằm định hớng giáo dục mọi thành viên trong doanh nghiệp,
trong các tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh có hiệu quả và có văn hoá.
Các phong tục, tập quán, thói quen, truyền thống, phong cách sinh hoạt , là
những yếu tố mang tính chất riêng của doanh nghiệp. Nó đợc hình thành, tồn tại và phát
triển vừa khách quan, vừa chủ quan trong quá trình vận hành của doanh nghiệp.
Nh vậy, tất cả các yếu tố vật chất và tinh thần trong doanh nghiệp đã tạo dựng nên
một bầu không khí, một bản sắc tinh thần đặc trng riêng cho từng doanh nghiệp. Thực tế
cho thấy những doanh nghiệp có nền văn hoá phát triển cao sẽ có bầu không khí làm việc
say mê và luôn có sự chủ động sáng tạo. Ngợc lại, những doanh nghiệp có nền văn hoá
thấp kém sẽ phổ biến sự bàng quan thờ ơ, bất lực trớc đội ngũ lao động của doanh nghiệp.
3. Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và môi trờng kinh doanh.
Môi trờng kinh doanh tác động tới doanh nghiệp theo nhiều chiều hớng khác
nhau nhng nhìn chung nó có hai hớng sau:
Tác động tích cực: đó là những tác động có lợi cho doanh nghiệp nh sự tăng trởng
nền kinh tế làm tăng sức mua của công chúng, chính sách mở cửa của Nhà nớc, tạo cơ hội
cho các doanh nghiệp hội nhập vào nền kinh tế khu vực và nền kinh tế thế giới. Vậy chính
sách của Chính phủ về khuyến khích đầu t phát triển ngành hàng, mặt hàng, chính sách
giảm thuế, cho vay vốn kinh doanh với lãi suất u đãi tất cả những yếu tố trên đã tạo cơ
hội cho doanh nghiệp tăng doanh số, tăng thị phần, tăng lợi nhuận. Bởi vậy, doanh nghiệp
nào càng hiểu biết kỹ lỡng về môi trờng kinh doanh thì càng có lợi thế trong việc tìm kiếm
cơ hội và giành thắng lợi trên thơng trờng.
Tác động tiêu cực: đây là những tác động không có lợi cho doanh nghiệp, nó gây
ra khó khăn, rủi ro cũng nh các nguy cơ, thách thức cho doanh nghiệp, kìm hãm sự phát
triển của doanh nghiệp, phải kể đến yếu tố thuộc về tự nhiên (thiên tai, lũ lụt, hạn hán )
thờng gây tổn thất lớn và ảnh hởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Quản trị doanh nghiệp 8 Đại học Mở Hà Nội
Nguyễn Phơng Thảo K9 QT2
Văn hoá, phong tục, tập quán, công nghệ, kỹ thuật hay các yếu tố thuộc chính sách của
Chính phủ trong việc đánh thuế xuất nhập cao, cấm xuất nhập khẩu một số mặt hàng
cũng là yếu tố gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tác động của doanh nghiệp tới môi trờng kinh doanh: mối liên hệ giữa doanh
nghiệp và môi trờng là mối liên hệ hai chiều, một mặt doanh nghiệp chịu sự tác
động của môi trờng kinh doanh, mặt khác chính doanh nghiệp cũng tác động trở
lại môi trờng của mình, sự tác động này có những mặt tích cực và cũng có mặt
tiêu cực, cụ thể:
Tác động tích cực: doanh nghiệp sản xuất ra của cải vât chất cho xã hội, là nguồn
thu cho ngân sách Nhà nớc thông qua việc nộp thuế, góp phần làm tăng trởng GDP của
nền kinh tế quốc dân. Đây còn là nơi tạo công ăn việc làm cho ngời lao động, giảm tỷ lệ
thất nghiệp, góp phần ổn định trật tự xã hội.
Tác động tiêu cực: gây ra sự ô nhiễm môi trờng và các tệ nạn tham ô, tham nhũng
hay sự tác hại làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, dịch bệnh
Tóm lại, doanh nghiệp và môi trờng kinh doanh luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau.
Môi trờng kinh doanh một mặt tạo cơ hội và thời cơ cho doanh nghiệp, mặt khác cũng
mang lại cho doanh nghiệp những rủi ro, thách thức. Ngợc lại, các doanh nghiệp cũng tạo
ra những phản ứng tích cực và tiêu cực tới môi trờng kinh doanh. Vì vậy, để tồn tại và ngày
càng phát triển, các nhà quản trị phải hiểu và nhận thức nó để rồi tìm cách làm cho doanh
nghiệp mình thích nghi với môi trờng, chủ động nắm bắt thời cơ và né tránh nguy cơ.
II. Khái niệm và nội dung cơ bản của quản trị doanh nghiệp
thơng mại.
1. Khái niệm quản trị và quản trị doanh nghiệp thơng mại.
Khái niệm quản trị.
Quản trị là công việc thờng xuyên, hàng ngày của bất kì nhà quản lý nào. Quản trị đ-
ợc hiểu là tổng hợp các hoạt động đợc thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc
qua nỗ lực của ngời khác.
Khái niệm quản trị doanh nghiệp thơng mại
Quản trị doanh nghiệp 9 Đại học Mở Hà Nội
Nguyễn Phơng Thảo K9 QT2
Quản trị doanh nghiệp đợc hiểu là phơng thức để đảm bảo hoàn thành mọi hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp một cách có kết quả bằng và thông qua nỗ lực của những
ngời khác.
Từ những khái niệm trên ta có thể hiểu "Quản trị hay quản trị doanh nghiệp đợc hiểu
là tổng hợp hoạt động đợc thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua nỗ
lực của những thành viên khác trong doanh nghiệp".
Vậy quản trị là các hoạt động đợc thực hiện thông qua các giác quan của con ngời.
Quản trị bao giờ cũng là quản trị sự thay đổi và nhà quản trị luôn phải đối đầu với những
khủng hoảng quản lý trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
2. Đặc điểm quản trị doanh nghiệp thơng mại
Quản trị doanh nghiệp thơng mại trớc hết thể hiện toàn bộ những đặc điểm của quản
trị doanh nghiệp nói chung trong nền kinh tế thị trờng, Ngoài ra, quản trị doanh nghiệp th-
ơng mại còn thể hiện những nét đặc thù riêng do đặc điểm hoạt động kinh doanh của loại
hình doanh nghiệp thơng mại quyết định.
- Quản trị doanh nghiệp thơng mại gắn với sự thay đổi nhanh và liên tục của môi
trờng kinh doanh. Thế giới kinh doanh phát triển rất nhanh, các tiến bộ kỹ thuật,
viễn thông và kỹ thuật cạnh tranh hỗ trợ mạnh mẽ làm cho hoạt động kinh
doanh thơng mại luôn trong trạng thái thay đổi. Doanh nghiệp thơng mại hoạt
động trên cơ sở đối tợng lao động là hàng hoá và đối tợng phục vụ là khách
hàng. Ngày nay, cả hai đối tợng trên đều thay đổi, phát triển không ngừng đòi
hỏi nhà quản trị phải thờng xuyên nắm bắt và xử lý thông tin nhằm chớp cơ hội
kinh doanh và hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra.
- Nhà quản trị phải luôn đối đầu với khủng hoảng quản lý trong suốt quá trình
hoạt động của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp mới thành lập, nhà quản trị phải
một mình lãnh đạo tất cả, tự mình quyết định và kiểm soát tất cả. Ngập chìm
trong các hoạt động ngày càng gia tăng và vì không thể "lãnh đạo" đợc nữa nên
khủng hoảng đầu tiên xuất hiện, đó là khủng hoảng lãnh đạo. Để giải quyết
cuộc khủng hoảng này nhà quản trị thiết lập một cơ cấu rõ ràng, phân công
trách nhiệm cho từng ngời. Sự tập trung cao độ này sẽ dẫn đến một cuộc khủng
hoảng mới, khủng hoảng quyền tự chủ. Để ứng phó với tình huống này cần
Quản trị doanh nghiệp 10 Đại học Mở Hà Nội
Nguyễn Phơng Thảo K9 QT2
phải có một hệ thống quy định, thủ tục chặt chẽ. Tuy nhiên, nếu không chú ý,
quy định này có thể trở nên lỗi thời và lại dẫn tới cuộc khủng hoảng mới, khủng
hoảng hệ thống thử lại.
- Quản trị vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Quản trị doanh nghiệp là
một khoa học bởi nó nghiên cứu các mối quan hệ quản trị trong quá trình hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp: quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trờng,
với doanh nghiệp khác, với Nhà nớc Kết quả nghiên cứu các quan hệ cho
phép đa ra những quyết định quản trị kinh doanh đúng đắn nhất. Tuy nhiên,
thực tiễn quản trị cũng chỉ ra rằng, có thể thiết kế hợp lý công việc để hoàn
thành nó một cách hiệu quả, nhng không phải bao giờ cũng có thể buộc đợc
nhân viên dới quyền thực hiện đúng những gì mà nhà quản trị dự kiến. Một vấn
đề nữa là các yếu tố của môi trờng bên ngoài thờng xuyên ảnh hởng đến doanh
nghiệp. Mối quan hệ qua lại giữa doanh nghiệp và môi trờng là rất phức tạp và
không dễ xác định. Cơ hội và rủi ro luôn đan xen nhau, nhận biết và xử lý đợc
những tình huống không chắc chắn chỉ có thể bằng kinh nghiệm và trực giác.
Nh vậy, với t cách là một hệ thống kiến thức có tổ chức thì quản trị là một khoa
học, còn với t cách là một lĩnh vực thực hành thì nó là một nghệ thuật.
- Quản trị suy cho đến cùng là quản trị nhân sự, quản trị con ngời. Đây cũng là
điều kiện cơ bản để doanh nghiệp có thể tiến hành hoạt động kinh doanh.
3. Các quan điểm về quản trị doanh nghiệp.
Quan điểm tiếp cận quá trình: theo cách tiếp cận này, quản trị đợc xem nh là một
quá trình, do đó, việc hoàn thành mục tiêu nhờ vào sự giúp đỡ của những ngời khác không
phải là một hành động đơn lẻ, nhất thời mà là một loạt các hành động liên tục và có quan
hệ qua lại với nhau. Bản thân mỗi hành động đó là một quá trình và rất quan trọng đối với
sự thành công của tổ chức. Chúng đợc gọi là các chức năng quản trị, quá trình quản trị là
một quá trình thực hiện các chức năng quản trị.
Quan điểm tiếp cận hệ thống: theo quan điểm này thì doanh nghiệp đợc cấu thành
từ rất nhiều các hệ thống có quan hệ qua lại với nhau và các doanh nghiệp là những hệ
thống mở luôn nằm trong sự tác động qua lại với môi trờng bên ngoài.
Quản trị doanh nghiệp 11 Đại học Mở Hà Nội
Nguyễn Phơng Thảo K9 QT2
Quan điểm tiếp cận tình huống: điểm cốt lõi của cách tiếp cận này là tình huống
quản trị, tức là tập hợp các hoàn cảnh có ảnh hởng mạnh mẽ đến đối tợng quản trị trong
một khoảng thời gian nhất định. Cách tiếp cận này tập trung sự chú ý vào tình huống, nó
nhấn mạnh vai trò của "t duy tình huống". Với cách tiếp cận này, nhà quản trị có thể nhận
biết rõ ràng cần phải sử dụng những biện pháp nào để có thể đạt đợc một cách tốt nhất
những mục tiêu của doanh nghiệp trong những tình huống cụ thể.
4. Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp thơng mại.
Có 4 chức năng quản trị, đó là: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo điều hành và kiểm soát.
Để thực hiện có hiệu quả 4 chức năng này đòi hỏi nhà quản trị phải có khả năng lãnh đạo
và tài gây hứng thú cho ngời khác sẵn sàng làm việc với mình, vì họ và vì mình. Nhiệm vụ
của nhà quản trị là phối hợp mục tiêu của các cộng sự dới quyền và các bộ phận trong tổ
chức doanh nghiệp với mục tiêu của chính doanh nghiệp.
Hoạch định: đợc hiểu là quá trình liên quan đến t duy và ý chí của con ngời, bắt
đầu bằng việc xác định mục tiêu, định rõ chiến lợc, chính sách, thủ tục và các kế hoạch chi
tiết để đạt mục tiêu, định rõ các giai đoạn phải trải qua để thực hiện mục tiêu, nó cho phép
hình thành và thực hiện các quyết định. Quá trình này đợc lặp thành chu kì, hoạch định là
một quá trình, một tâm trạng, một hành động hớng về tơng lai, nghĩa là, hoạch định là một
quyết định trong hiện tại với triển vọng về những kết quả trong tơng lai. Nh vậy, hoạch
định mang tính liên tục trong việc phối hợp nhịp nhàng các hành động để đạt đợc mục
tiêu.
Tổ chức: là sự liên kết những cá nhân, những quá trình, những hoạt động trong
doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu đề ra của doanh nghiệp dựa trên cơ sở các nguyên
tắc quản trị của doanh nghiệp. Nói cách khác, tổ chức là việc xác lập mô hình, phân công
và giao nhiệm vụ cho mỗi cấp và mỗi nhân viên trong công ty. Tổ chức còn bao gồm việc
uỷ nhiệm cho mỗi cấp quản trị và cho các nhân viên điều hành để họ có thể thực hiện
nhiệm vụ của mình một cách có hiệu quả.
Lãnh đạo: là một hệ thống (hay một quá trình) tác động đến con ngời để cho họ tự
nguyện và nhiệt tình thực hiện các hành động cần thiết nhằm đạt đợc mục tiêu của tổ chức.
Lãnh đạo là việc tự giác chấp hành kỷ luật và duy trì kỷ luật của tổ chức thông qua uy tín,
năng lực và quyền lực của mình.
Quản trị doanh nghiệp 12 Đại học Mở Hà Nội
Nguyễn Phơng Thảo K9 QT2
Kiểm soát: vừa là quá trình kiểm tra các chỉ tiêu, vừa là việc theo dõi cách ứng xử
của đối tợng. Đó là quá trình vừa xét hành vi quá khứ vừa có thể hớng về những hành
động tơng lai, kiểm soát có mục đích là đảm bảo cho kết quả hoạt động phù hợp với mục
tiêu của tổ chức.
III. Quản trị tiêu thụ và vai trò của quản trị tiêu thụ hàng
hoá trong doanh nghiệp thơng mại.
1. Khái niệm quản trị tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp thơng mại.
Theo cách tiếp cận quá trình thì quản trị tiêu thụ là quản trị mọi lĩnh vực cụ thể của
quá trình kinh doanh trong doanh nghiệp thơng mại. Đó là hoạt động của các nhà quản trị
doanh nghiệp nói chung và các nhà quản trị tiêu thụ nói riêng liên quan đến quá trình
hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát hoạt động tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của
doanh nghiệp.
Nếu xét theo mối quan hệ giữa con ngời với con ngời thì có thể hiểu quản trị tiêu thụ
là hoạt động của các nhà quản trị để đạt đợc mục tiêu của việc tiêu thụ hàng hoá bằng hoặc
thông qua nỗ lực của những ngời khác.
Nh vậy, quản trị tiêu thụ hàng hoá là quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm
soát hoạt động tiêu thụ nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định của doanh nghiệp.
2. Vai trò của quản trị tiêu thụ hàng hoá.
Đối với doanh nghiệp.
Đối với mỗi doanh nghiệp thì tiêu thụ hàng hoá là hoạt động, là khâu cơ bản nhất
nhằm tạo ra kết quả kinh doanh cho doanh nghiệp. Nó góp phần quyết định vào việc thực
hiện mục tiêu cũng nh mục đích kinh doanh của doanh nghiệp nhất là mục tiêu tìm kiếm
lợi nhuận. Thông qua việc bán hàng và đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng, vị thế của
doanh nghiệp sẽ đợc nâng cao, tạo đợc niềm tin từ phía khách hàng. Đó chính là điều kiện
góp phần giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh trên thơng trờng, có thể tồn tại và
phát triển lâu dài.
Đối với doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thơng mại nói riêng, hoạt động
quản trị tiêu thụ hàng hoá là hoạt động cụ thể hoá các mục tiêu hoạt động của doanh
nghiệp, là tấm gơng phản chiếu đúng đắn các hoạt động khác đồng thời nó thể hiện tài
Quản trị doanh nghiệp 13 Đại học Mở Hà Nội
Nguyễn Phơng Thảo K9 QT2
năng, năng lực của ngời quản trị trong hoạt động tác nghiệp. Hoạt động quản trị tiêu thụ đ-
ợc thực hiện tốt thì hoạt động tiêu thụ sẽ đạt hiệu quả cao, giảm chi phí, tăng thị phần, nâng
cao sức cạnh tranh cũng nh uy tín của doanh nghiệp trên thơng trờng.
Đối với nền kinh tế quốc dân: Hoạt động quản trị tiêu thụ hàng hoá sẽ có tác
dụng:
- Đáp ứng nhu cầu dân c, phục vụ sản xuất và đời sống xã hội.
- Tạo điều kiện cân đối cung cầu về hàng hoá.
- Tạo điều kiện trong việc điều hoà tiền tệ.
- Thực hiện các chính sách tài chính của Nhà nớc.
3. Những nội dung cơ bản của quản trị tiêu thụ hàng hoá trong DNTM.
3.1- Quản trị tiêu thụ hàng hoá theo chức năng.
Theo cách tiếp cận này thì quản trị tiêu thụ hàng hoá gồm 4 chức năng cơ bản: hoạch
định, tổ chức, lãnh đạo, và kiểm soát.
Hoạch định: bao gồm các hoạt động:
Xác định mục tiêu của hoạt động tiêu thụ hàng hoá. Thờng thì mục tiêu của hoạt
động tiêu thụ hàng hoá là tăng doanh số bán ra, tăng lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp, giải phóng vốn kinh doanh, sử dụng có hiệu quả nguồn lực doanh
nghiệp. Nhìn chung, các mục tiêu trên phải phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp là lợi
nhuận, thế lực và an toàn. Để thực hiện các mục tiêu này thì nhà quản trị phải có trong tay
các nguồn lực có hiệu quả nhất. Căn cứ để xây dựng các chiến lợc, chính sách, kế hoạch
kinh doanh của doanh nghiệp chính là thị trờng. Vì vậy, trớc khi vạch ra bất kì kế hoạch
nào, nhà quản trị cũng phải căn cứ vào tình hình thực tế và xu thế biến động của thị trờng.
Thăm dò nghiên cứu thị trờng tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp. Thị trờng luôn
gắn liền với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đó là nơi diễn ra mọi
hoạt động tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp. Muốn tiêu thụ đợc hàng hoá thì doanh
nghiệp phải nắm bắt đợc các thông tin thị trờng một cách chính xác, kịp thời.
Xây dựng chính sách tiêu thụ hàng hoá:
Về chính sách mặt hàng kinh doanh: chính sách mặt hàng kinh doanh tốt sẽ
giúp cho việc lựa chọn mặt hàng kinh doanh phù hợp với khả năng của doanh nghiệp và
phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Từ đó, đảm bảo cho việc tiêu thụ hàng hoá có
Quản trị doanh nghiệp 14 Đại học Mở Hà Nội
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét