Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
Quan điểm của trờng phái trọng thơng về thơng mại cho rằng các quốc gia
cần tích luỹ nguồn của cải tài chính, thờng là bằng vàng, bằng cách khuyến khích
xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, đợc gọi là chủ nghĩa trọng thơng. Quan điểm này
cho rằng lợng của cải của một quốc gia là thớc đo phúc lợi duy nhất của quốc gia
đó. Các quan điểm trọng thơng đợc biểu hiện nh sau :
Các quốc gia có thể tăng lợng của cải của mình bằng cách duy trì mức thặng
d thơng mại - tức khi giá trị xuất khẩu của một quốc gia lớn hơn giá trị nhập khẩu
của quốc gia đó. Thặng d thơng mại có nghĩa là quốc gia thu đợc nhiều vàng hơn từ
xuất khẩu so với lợng vàng phải thanh toán cho nhập khẩu. Thâm hụt thơng mại là
tình huống ngợc lại và xảy ra khi giá trị nhập khẩu của một quốc gia lớn hơn giá trị
xuất khẩu của quốc gia đó. Theo quan điểm trọng thơng thì quốc gia cần phải tránh
tình trạng thâm hụt thơng mại bằng mọi giá.
Các Chính phủ phải tích cực can thiệp vào thơng mại quốc tế để duy trì mức
thặng d thơng mại. Quá trình tích luỹ của cải phụ thuộc vào việc gia tăng mức thặng
d thơng mại, chứ không nhất thiết phải dựa vào việc mở rộng quy mô hoặc gia tăng
giá trị thơng mại. Chính phủ có thể đạt đợc điều này bằng cách cấm nhập khẩu một
số mặt hàng, hoặc áp đặt các công cụ hạn chế nhập khẩu nh thuế quan và hạn ngạch.
Đồng thời, các ngành công nghiệp trong nớc đợc trợ cấp để có thể đẩy mạnh hoạt
động xuất khẩu. Chính phủ cũng thờng áp dụng biện pháp cấm chuyển vàng bạc tới
các nớc khác.
Các quốc gia theo quan điểm của trờng phái trọng thơng tìm cách biến các
vùng lãnh thổ kém phát triển (các thuộc địa) thành nơi cung cấp nguồn nguyên vật
liệu thô rẻ tiền, và đồng thời thành nơi tiêu thụ các thành phẩm với giá cao.
Mặc dầu chính sách trọng thơng mang lại nhiều lợi ích cho những quốc gia
theo đuổi nó, nhng chính sách này có rất nhiều mặt hạn chế. Hạn chế chủ yếu của
chủ nghĩa trọng thơng là ở chỗ nếu tất cả các quốc gia đều tìm cách ngăn cản nhập
khẩu từ nớc ngoài vào thị trờng của mình và đẩy mạnh xuất khẩu sang các nớc khác
thì thơng mại quốc tế sẽ bị thu hẹp một cách ghê gớm. Ngoài ra, việc nhập khẩu từ
Lê Thuỳ Linh Kinh tế quốc tế 42
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
các thuộc địa với giá rẻ trong khi xuất khẩu sang các nớc đó với giá cao đã ngăn cản
sự phát triển kinh tế ở những nớc thuộc địa, từ đó làm giảm sức tiêu thụ hàng hoá ở
những nớc này. Các quốc gia này còn cho rằng của cải của thế giới là có hạn cho
nên sự giàu có của một quốc gia chỉ có thể diễn ra khi ít nhất có một quốc gia khác
nghèo đi. Thơng mại quốc tế vì vậy đợc coi là một trò chơi có tổng lợi ích bằng 0.
Nhng thực tế cho thấy rằng các quốc gia khi tham gia vào thơng mại quốc tế đều có
thể thu đợc lợi ích cho mình, nghĩa là sự giàu có của các quốc gia không chỉ dựa vào
lợng vàng đợc tích trữ ở quốc gia đó mà còn dựa trên nhiều nhân tố kinh tế xã hội
khác nh là văn hoá xã hội, đời sống nhân dân
1.1.2.2. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith :
Khác với trờng phái trọng thơng, Adam Smith cho rằng : sự giàu có của mỗi
quốc gia phụ thuộc vào số hàng hoá và dịch vụ có sẵn hơn là phụ thuộc vào vàng.
Khả năng của một quốc gia có thể sản xuất một mặt hàng với hiệu quả cao hơn bất
kỳ quốc gia nào khác đợc gọi là lợi thế tuyệt đối của quốc gia đó. Nói cách khác,
với nguồn lực có quy mô nh nhau (hoặc nhỏ hơn), một quốc gia có lợi thế tuyệt đối
về một mặt hàng nào đó có thể làm ra lợng sản phẩm nhiều hơn so với các quốc gia
khác.
Ông lập luận rằng một nớc không nhất thiết phải sản xuất tất cả các mặt hàng
tiêu dùng trong nớc, mà ngợc lại mỗi nớc có thể tập trung sản xuất những mặt hàng
mà mình có lợi thế tuyệt đối và sau đó buôn bán với các nớc khác để đổi lấy những
mặt hàng mà mình không có lợi thế tuyệt đối. Theo ông, nếu mỗi quốc gia đều
chuyên môn hoá vào những ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối, thì họ có thể
sản xuất đợc những sản phẩm có chi phí thấp hơn so với nớc khác để xuất khẩu,
đồng thời lại nhập khẩu những hàng hoá mà nớc này không sản xuất hoặc sản xuất
đợc nhng có chi phí cao hơn giá nhập khẩu.
Nhờ sự chuyên môn hoá các nớc có thể gia tăng hiệu quả sản xuất của mình,
các sản phẩm cũng có chất lợng tốt hơn bởi vì ngời lao động sẽ lành nghề hơn do
công việc đợc lặp lại nhiều lần, họ không mất thời gian trong việc chuyển sản xuất
Lê Thuỳ Linh Kinh tế quốc tế 42
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
sản phẩm này sang sản phẩm khác. Ngoài ra, do làm một công việc lâu dài nên ngời
lao động sẽ có nhiều kinh nghiệm, các sáng kiến và các phơng pháp làm việc tốt
hơn.
Ông phê phán sự phi lý của lý thuyết trọng thơng và chứng minh rằng: thơng
mại sẽ giúp các bên cùng giầu có lên nghĩa là cùng thu đợc lợi ích. Do cả hai nớc
đều có lợi từ việc trao đổi nên thơng mại quốc tế là trò chơi có tổng lợi ích lớn hơn
0. Lý thuyết này cũng phê phán quan điểm cho rằng mục tiêu của Chính phủ là phải
sử dụng các chính sách hạn chế thơng mại để gia tăng của cải cho quốc gia. Ngợc
lại, các quốc gia cần mở cửa và trao đổi thơng mại để ngời dân của mình có thể mua
đợc nhiều hàng hoá hơn và với giá rẻ hơn.
Mặc dầu cho thấy thơng mại là có lợi cho các bên tham gia, nhng lý thuyết
lợi thế tuyệt đối không trả lời đợc câu hỏi : điều gì xảy ra nếu một nớc không có đợc
lợi thế tuyệt đối về bất kì mặt hàng nào ? Liệu thơng mại có mang lại lợi ích hay
không, hay thậm chí thơng mại có thể diễn ra đợc hay không ? Trên thực tế, thơng
mại quốc tế có thể diễn ra mà không nhất thiết đòi hỏi các nhà xuất khẩu phải có lợi
thế tuyệt đối so với các đối thủ cạnh tranh nớc ngoài. Để trả lời những câu hỏi này
cần xem xét một khái niệm rộng hơn, cụ thể là khái niệm về lợi thế so sánh nh sau :
1.1.2.3. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo :
Theo lý thuyết này, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc
gia khác trong việc sản xuất tất cả các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham
gia vào thơng mại quốc tế để tạo ra lợi ích cho quốc gia mình. Nói cách khác trong
điểm bất lợi vẫn có những điểm thuận lợi để khai thác khi tham gia vào hoạt động
xuất khẩu, những quốc gia có hiệu quả thấp trong việc sản xuất ra các loại hàng hoá
sẽ có thể chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá ít bất lợi nhất để trao đổi với các quốc
gia khác và nhập về những hàng hoá mà việc sản xuất ra nó gặp rất nhiều khó khăn
và bất lợi. Từ đó tiết kiệm đợc nguồn lực của mình và thúc đẩy sản xuất trong nớc.
Để thấy đợc vai trò của lý thuyết lợi thế so sánh trong việc giải thích thơng
mại quốc tế, ta có thể xem xét ví dụ sau :
Lê Thuỳ Linh Kinh tế quốc tế 42
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
Giả sử rằng quốc gia A có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất cả hai mặt
hàng gạo và chè so với quốc gia B. Bảng dới đây cho thấy số lợng lao động mà mỗi
nớc sử dụng để sản xuất gạo và chè. Quốc gia A chỉ cần 1 lao động để sản xuất 1 tấn
gạo, cần 2 lao động để sản xuất 1 tấn chè. Quốc gia B cần 6 lao động để sản xuất 1
tấn gạo và 3 lao động để sản xuất 1 tấn chè.
Hiệu quả sản xuất gạo và chè của mỗi quốc gia có thể đợc biểu thị lại nh sau :
Quốc gia A : 1 lao động = 1 tấn gạo hoặc 1/2 tấn chè.
Quốc gia B : 1 lao động = 1/6 tấn gạo hoặc 1/3 tấn chè.
Mặt hàng
Quốc gia
Gạo Chè
A 1 2
B 6 3
Nh vậy với mỗi lao động đợc sử dụng thì quốc gia A đều sản xuất đợc nhiều
gạo và chè hơn quốc gia B, hay nói cách khác quốc gia A có lợi thế tuyệt đối trong
sản xuất cả hai mặt hàng. Mặc dầu không thể sản xuất gạo hoặc chè với hiệu quả
cao hơn so với quốc gia A, nhng quốc gia B có thể sản xuất chè một cách hiệu quả
hơn so với sản xuất gạo.
Lại giả sử rằng hai nớc A và B quyết định trao đổi với nhau theo tỷ lệ 1 tấn
gạo = 1 tấn chè. Quốc gia B có thể sử dụng 1 lao động để sản xuất 1/6 tấn gạo. Thế
nhng giải pháp tốt hơn là sử dụng lao động đó để sản xuất 1/3 tấn chè và sau đó trao
đổi với quốc gia A lấy 1/3 tấn gạo. Khi đó, nhờ chuyên môn hoá sản xuất và trao
đổi, quốc gia B có đợc lợng gạo nhiều gấp đôi so với trờng hợp tự sản xuất lấy gạo.
Quốc gia A cũng thu đợc lợi ích từ thơng mại dẫu cho nớc này có lợi thế tuyệt đối
kép. Quốc gia A có thể bỏ ra 1 lao động để sản xuất 1/2 tấn chè. Tuy nhiên, tốt hơn
là nớc này nên sử dụng lao động đó để sản xuất 1 tấn gạo và trao đổi với quốc gia B
lấy 1 tấn chè. Khi đó quốc gia A cũng có đợc lợng chè nhiều hơn hai lần so với tr-
ờng hợp tự mình sản xuất lấy chè.
Lê Thuỳ Linh Kinh tế quốc tế 42
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
Nh vậy qua ví dụ trên ta thấy đợc lợi ích của việc trao đổi sản phẩm giữa các
quốc gia thông qua việc xuất nhập khẩu hàng hoá. Sự chuyên môn hoá sản xuất
những sản phẩm mà mình có lợi thế để xuất khẩu và nhập khẩu về những hàng hoá
mà mình ít có lợi thế hơn sẽ giúp cho việc sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất các
nguồn lực của mỗi nớc. Khi mỗi quốc gia thực hiện chuyên môn hoá sản xuất mặt
hàng mà quốc gia đó có lợi thế so sánh thì tổng sản lợng tất cả các mặt hàng của
toàn thế giới sẽ tăng lên, và tất cả các quốc gia sẽ trở nên sung túc hơn.
Nhà nớc do đó không nên can thiệp sâu vào hoạt động ngoại thơng và không
nên áp dụng các biện pháp ép buộc cứng nhắc cho hoạt động này. Các quốc gia chỉ
nên tìm cách đề ra các biện pháp hợp lý để sử dụng tối u nhất các nguồn lực của
mình sao cho khi đem trao đổi thì đợc lợi nhất, đó chính là nội dung cơ bản của lý
thuyết lợi thế so sánh. Cho đến nay, hoạt động chuyên môn hoá các mặt hàng mà
mình có lợi thế đã đợc các quốc gia trên thế giới áp dụng một cách triệt để và đã thu
đợc những kết quả tốt. Kết quả là thơng mại quốc tế hiện nay đã phát triển rất nhanh
và đã đạt đợc những thành tựu to lớn, đó là sự hình thành các khu mậu dịch tự do về
thơng mại để khuyến khích trao đổi thơng mại, các liên minh về thơng mại của khu
vực và thế giới.
1.1.3. Các hình thức xuất khẩu.
1.1.3.1. Xuất khẩu trực tiếp :
Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu các hàng hoá và dịch vụ mà doanh
nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất khác, sau đó xuất khẩu
những sản phẩm đó cho các khách hàng nớc ngoài với danh nghĩa là hàng của mình.
Hình thức này có u điểm là lợi nhuận thu đợc của các đơn vị kinh doanh th-
ờng cao hơn các hình thức khác. Với hình thức này doanh nghiệp đứng ở thế chủ
động trong hoạt động kinh doanh, mọi lợi nhuận doanh nghiệp đợc hởng hết. Với
vai trò là ngời bán hàng trực tiếp, doanh nghiệp có thể nâng cao uy tín của mình
thông qua quy cách và phẩm chất hàng hoá, tiếp cận thị trờng và nắm bắt đợc nhu
cầu thị hiếu của khách hàng.
Lê Thuỳ Linh Kinh tế quốc tế 42
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
Tuy vậy hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng trớc một lợng vốn khá
lớn để sản xuất, thu mua hoặc có thể gặp rất nhiều khó khăn, rủi ro nh : không xuất
đợc hàng hoá, không thu mua đợc hàng hoá, bị thanh toán chậm, thay đổi tỷ giá hối
đoái, lạm phát
Chính vì vậy mà để có thể thực hiện nghiệp vụ này thành công thì doanh
nghiệp cần phải có nghiệp vụ ngoại thơng cao và có kinh nghiệm xuất khẩu tốt. Khi
doanh nghiệp đã có đủ khả năng và kinh nghiệm để thực hiện nghiệp vụ kinh doanh
này thành công thì nguồn lợi mà doanh nghiệp thu về là rất lớn.
1.1.3.2. Xuất khẩu tại chỗ :
Đây là hình thức xuất khẩu mà hàng hoá không nhất thiết phải ra khỏi biên
giới quốc gia để đến tay khách hàng. Là hình thức xuất khẩu mà hàng hoá vẫn
tronglãnh thổ quốc gia nhng vẫn đợc bán cho các khách hàng nớc ngoài.
Hình thức này có nhiều u điểm và đang phổ biến rộng rãi ở mọi quốc gia. Tr-
ớc hết là do đặc điểm của nghiệp vụ này là hàng hoá không ra khỏi biên giới quốc
gia nên doanh nghiệp xuất khẩu tránh đợc nhiều rủi ro vì đợc thực hiện bán hàng
hoá ngay trong môi trờng quen thuộc nhất. Ngoài ra doanh nghiệp còn giảm đợc
những chi phí về vận chuyển, về nghiên cứu thị trờng mới, về thuê đại lý phân
phối và bỏ qua đợc những hợp đồng phụ trợ nh hợp đồng vận tải, bảo hiểm, thủ tục
hải quan
Tuy nhiên hình thức xuất khẩu này thờng không chiếm tỷ lệ lớn trong hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp vì lợi nhuận thu đợc là nhỏ. Phần
lớn doanh nghiệp thực hiện mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu ra nớc ngoài nhằm mở
rộng thị trờng về không gian và tìm kiếm thêm nhiều thị trờng mới, bạn hàng mới
Đối với doanh nghiệp có chi nhánh ở nớc ngoài, thực hiện kinh doanh ngay
tại thị trờng đó thì hình thức này lại là phổ biến và hiệu quả. Đó là nhờ vào lợi thế về
vị trí, ở ngay thị trờng tiêu thụ sẽ giảm thiểu đợc những chi phí vận chuyển và những
thủ tục rờm rà. Nhng bớc đầu để thực hiện đợc thì doanh nghiệp cũng phải có vốn
Lê Thuỳ Linh Kinh tế quốc tế 42
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
lớn và có những kinh nghiệm trong việc kinh doanh và chiếm lĩnh thị trờng nớc sở
tại.
1.1.3.3. Tạm nhập tái xuất :
Đây là hoạt động xuất khẩu những hàng hoá mà đã đợc nhập khẩu trớc đó nh-
ng không qua một công đoạn gia công, chế biến nào. Hoạt động này nhằm thu lợi
nhuận thông qua chênh lệch giá cả giữa nhập khẩu (mua) và xuất khẩu (bán).
Hình thức này có u điểm là ít rủi ro hơn các hình thức khác, dễ thực hiện
thành công hơn. Doanh nghiệp không cần phải bỏ ra lợng vốn lớn mà vẫn có thể thu
đợc nhiều lợi nhuận. Tuy nhiên hoạt động kinh doanh này thờng không lâu dài và có
quy mô nhỏ hẹp vì nó chỉ thực hiện đợc ở những thị trờng thiếu hàng hóa hoặc
không thể sản xuất đợc hàng hoá đó, thông thờng hình thức này diễn ra đối với hàng
hoá là nguyên vật liệu.
Doanh nghiệp có thể kết hợp hình thức kinh doanh này với các hình thức khác
để tăng thêm lợi nhuận.
1.1.3.4. Xuất khẩu gia công :
* Xuất khẩu gia công uỷ thác : Theo hình thức này, các doanh nghiệp kinh
doanh hàng xuất khẩu đứng ra nhập nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho các
doanh nghiệp khác gia công, sau đó thu hồi thành phẩm để xuất lại cho bên nớc
ngoài. Doanh nghiệp sẽ đợc hởng phí uỷ thác theo thoả thuận với các doanh nghiệp
trực tiếp chế biến.
Các bớc tiến hành của hình thức này nh sau :
+ Ký kết hợp đồng gia công với bên nhận gia công.
+ Ký kết hợp đồng gia công với bên đặt gia công và nhập nguyên liệu từ bên
đặt ra công về.
+ Giao nguyên vật liệu đó cho bên nhận gia công (theo hợp đồng đã thoả
thuận).
+ Nhập lại thành phẩm từ bên gia công và xuất lại cho bên dặt gia công hàng
hoá đó.
Lê Thuỳ Linh Kinh tế quốc tế 42
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
+ Thanh toán chi phí gia công cho đơn vị gia công (do bên đặt gia công trả)
và đợc hởng phí ủy thác gia công.
Hình thức này có u điểm là không cần bỏ vốn vào kinh doanh những vẫn thu
đợc lợi nhuận, ít rủi ro, việc thanh toán đợc bảo đảm vì đầu ra chắc chắn. Song hình
thức này lại đòi hỏi rất nhiều thủ tục xuất và nhập do phải xuất và nhập nhiều lần.
Do đó để thực hiện tốt hình thức này các doanh nghiệp cần phải có những cán bộ
kinh doanh kinh nghiệm về nghiệp vụ xuất nhập khẩu.
Hình thức xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nớc ngoài cũng tơng tự nh hình
thức này, chỉ khác là đơn vị sản xuất phải tự tìm lấy nguồn nguyên liệu để sản xuất
ra các sản phẩm theo đúng yêu cầu của đơn đặt hàng.
* Gia công quốc tế : Đây là hình thức trong đó bên nhận gia công nhập
nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của bên đặt gia công để chế biến ra thành phẩm
theo yêu cầu của bên đặt gia công, sau đó xuất khẩu để giao lại thành phẩm và nhận
thù lao gọi là phí gia công.
Ưu điểm của hình thức này là giúp bên nhận gia công tạo công ăn việc làm
cho ngời lao động, nhận đợc các thiết bị công nghệ tiên tiến để phát triển sản xuất.
Đây là hình thức đợc áp dụng phổ biến ở các nớc đang phát triển có nguồn nhân lực
dồi dào. Đối với nớc đặt gia công cũng đợc hởng lợi vì họ tận dụng đợc nguồn nhân
công với giá rẻ, cũng nh tận dụng đợc nguồn nguyên vật liệu sẵn có của bên nớc
nhận gia công. Nh vậy hình thức này đã góp phần tạo ra sự kết hợp và chuyên môn
hoá giữa các quốc gia trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nhờ đó thơng
mại ngày càng phát triển với trình độ cao hơn.
1.1.3.5. Xuất khẩu uỷ thác :
Trong hình thức này các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu đứng ra
đóng vai trò là trung gian xuất khẩu, làm thaycho các đơn vị sản xuất (bên có hàng)
những thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng và hởng phẩn trăm theo giá trị hàng xuất
khẩu đã đợc thoả thuận.
Các bớc tiến hành của hình thức này :
Lê Thuỳ Linh Kinh tế quốc tế 42
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
+ Ký hợp đồng nhận uỷ thác xuất khẩu cho các đơn vị sản xuất trong nớc.
+ Ký hợp đồng với bên nớc ngoài, giao hàng và thanh toán tiền hàng.
+ Nhận uỷ thác xuất khẩu cho các đơn vị trong nớc.
Hình thức này có u điểm là mức độ rủi ro thấp, ít trách nhiệm, ngời đứng ra
xuất khẩu không phải là ngời chịu trách nhiệm cuối cùng, đặc biệt không cần vốn để
mua hàng. Phơng thức thanh toán đợc đảm bảo, có ít thủ tục và thờng là có sự tin
cậy lẫn nhau. Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay thì hình thức này ít đợc các doanh
nghiệp lựa chọn, bởi vì hình thức này tạo ra sự phụ thuộc của doanh nghiệp xuất
khẩu với các trung gian nhận uỷ thác xuất khẩu do tình trạng thiếu thông tin và làm
hạn chế khả năng của doanh nghiệp. Hầu hết các doánh nghiệp sẽ lựa chọn hình
thức xuất khẩu trực tiếp, nhng trong một số hoàn cảnh cụ thể thì doanh nghiệp có
thể sử dụng hình thức xuất khẩu uỷ thác để đảm bảo cho hoạt động xuất khẩu của
mình khi vào một thị trờng mới.
1.1.3.6. Buôn bán đối l u :
Buôn bán đối lu là phơng thức giao dịch mà trong đó xuất khẩu kết hợp chặt
chẽ với nhập khẩu, ngời bán đồng thời là ngời mua, lợng hàng trao đổi có giá trị t-
ơng đơng với giá trị lô hàng đã xuất. Mục đích xuất khẩu không phải là thu lợi
nhuận mà nhằm thu về một lợng hàng tơng đơng với giá trị của lô hàng đã xuất.
Ngoài ra còn là nhằm tránh các rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đoái trên thị tr-
ờng ngoại hối.
Có rất nhiều loại hình buôn bán đối lu nh sau :
+ Hình thức hàng đổi hàng là việc hai bên trao đổi trực tiếp với nhau những
hàng hoá có giá trị tơng đơng, việc giao hàng diễn ra hầu nh đồng thời. Trong
nghiệp vụ hàng đổi hàng hiện đại nh ngày nay thì ngời ta có sử dụng tiền để thanh
toán một phần tiền hàng, hơn nữa lại có thể thu hút tới 3 - 4 bên tham gia. Ưu điểm
cảu hình thức này là các bên không cần phải thông qua các giai đoạn trung gian bán
hàng- nhận tiền- mua hàng mà có thể đổi hàng lấy hàng mà mình cần thiết luôn.
Tuy nhiên, hình thức này thờng chỉ áp dụng khi các bên tham gia trao đổi đã có sự
Lê Thuỳ Linh Kinh tế quốc tế 42
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
tin tởng lẫn nhau hoặc đã tạo đợc uy tín cho nhau về sản phẩm đem trao đổi, chính
vì vậy mà hình thức này còn có nhiều hạn chế.
+ Hình thức bù trừ là hai bên trao đổi hàng hoá với nhau trên cơ sở ghi trị giá
hàng giao và hàng nhận, đến cuối kỳ hạn hai bên mới đối chiếu sổ sách, so sánh
giữa giá trị hàng giao với giá trị hàng nhận. Nếu sau khi bù trừ tiền hàng nh thế mà
còn số d thì số tiền đó đợc giữ lại để chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ về những
khoản chi tiêu của bên chủ nợ tại nớc bị nợ.
Đây là hình thức phát triển nhanh nhất của buôn bán đối lu. Hợp đồng bù trừ
thờng đợc ký kết cho thời gian dài ( có khi tới 10 hoặc 20 năm).
+ Hình thức buôn bán có thanh toán bình hành ( clearing) là việc hai chủ thể
của quan hệ buôn bán thoả thuận chỉ định ngân hàng thanh toán. Ngân hàng này mở
tài khoản, gọi là tài khoản clearing để ghi chép tổng giá trị hàng giao nhận của mỗi
bên. Sau một thời hạn quy định, ngân hàng mới quyết toán tài khoản clearing và bên
bị nợ (tức nhận nhiều mà giao ít) sẽ phải trả khoản nợ bội chi mà mình đã gây ra.
+ Hình thức mua đối lu là hình thức một bên sẽ ký kết hợp đồng có thanh
toán và cam kết, sau đó một khoảng thời gian nhất định sẽ bán cho bên kia một lợng
hàng hoá khác và cũng đợc nhận tiền thanh toán. Giá trị của hai hợp đồng này
không nhất thiết phải bằng nhau, việc trao đổi hàng hoá trong khuôn khổ mua đối lu
đợc thực hiện trong một thời gian không dài (thờng từ 1 đến 5 năm).
+ Hình thức chuyển nợ (switch) là bên nhận hàng chuyển khoản nợ về tiền
hàng cho một bên thứ ba để bên thứ ba này trả tiền. Hình thức này đảm bảo cho các
công ty, nếu nhận hàng không phù hợp với lĩnh vực kinh doanh của mình thì có thể
bán hàng đó đi.
+ Hình thức giao dịch bồi hoàn (offset) là việc đổi hàng hoá và/hoặc dịch vụ
và u huệ (nh u huệ trong đầu t hoặc bán sản phẩm). Giao dịch bồi hoàn hiện nay
chiếm gần 1/4 số hợp đồng buôn bán đối lu. Nó thờng xảy ra trong lĩnh vực buôn
bán những ký thuật quân sự đắt tiền trong việc giao những chi tiết và cụm chi tiết
trong khuôn khổ hợp tác công nghiệp.
Lê Thuỳ Linh Kinh tế quốc tế 42
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét