có phù hợp với thị hiếu của người tiêu thụ, xu hướng thị trường hiện nay
hay không?
Đánh giá sản phẩm của dự án dự kiến được tiêu thụ theo phương thức
nào, có cần hệ thống phân phối không? Mạng lưới phân phối của sản phẩm
dự án đã được xác lập hay chưa, có phù hợp với đặc điểm của thị trường hay
không?
1.2.4.2. Thẩm định trên phương diện kỹ thuật.
Thẩm định dự án về phương diện kỹ thuật là việc kiểm tra, phân tích
các yếu tố kỹ thuật và công nghệ chủ yếu của dự án. Nó là tiền đề cho việc
tiến hành thẩm định tính khả thi về phương diện tài chính.
• Thẩm định về địa điểm xây dựng công trình
Địa điểm phải thuận lợi về mặt giao thông.
Gần nguồn cung cấp vật liệu và thị trường tiêu thụ.
Cơ sở vật chất hạ tầng phải được đảm bảo…
• Thẩm định về quy mô công suất:
Quy mô công suất phải cân đối với nhu cầu thị trường và khả năng
cung cấp nguyên vật liệu cũng như khả năng quản lý và nhu cầu nhân lực.
• Thẩm định về công nghệ
Hiệu quả của công nghệ, tỷ lệ phế thải, mức tiêu hao NVL, tiêu
hao năng lượng…
Mức độ tự động hoá, cơ khí hoá, chuyên môn hoá, đặc điểm
của nguyên vật liệu đầu vào.
Khuyến khích lựa chọn công nghệ hiện đại so với trình độ
chung của quốc tế và khu vực. Tuy nhiên, trong một số trường
hợp có thể dùng công nghệ thích hợp với trình độ và thực tiễn
của Việt Nam nhưng những công nghệ này phải ưu việt hơn
các công nghệ có trong nước.
• Thẩm định nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào khác:
5
Nguyên vật liệu đầu vào bao gồm tất cả các nguyên vật liệu chính và
phụ, vật liệu bao bì đóng gói. Đảm bảo NVL là một khía cạnh quan trọng
trong lập và thẩm định dự án.
• Thẩm định về môi trường, PCCC
Những biện pháp (công nghệ, thiết bị) mà dự án dự kiến đầu tư để xử
lý phù hợp với từng loại chất thải (nước thải, hơi độc, khói bụi nhiệt độ
cao…). Hiệu quả xử lý như thế nào?
• Thẩm định về mô hình tổ chức, quản trị và nhân lực cho dự án
Thành công của một dự án đầu tư, bên cạnh sự đầy đủ về các yếu tố
cơ sở vật chất còn được quyết định rất lớn bởi trình độ, năng lực của các nhà
quản lý, bởi tay nghề của người lao động… Do đó, khi thẩm định dự án,
việc xem xét về phương thức tổ chức quản lý dự án, tính hợp lý trong bố trí
lao động thực sự là một nội dung cần thiết .
Căn cứ vào yêu cầu kỹ thuật của sản xuất và điều hành dự án để ước
tính số lao động cần dùng, yêu cầu về kỹ năng, bậc thợ và trình độ quản lý.
• Thẩm định về kế hoạch triển khai của dự án
Đây là khâu quan trọng trong thẩm định về phương diện kỹ thuật.
Một công trình đầu tư bao gồm nhiều hạng mục khác nhau, quá trình thực
hiện xây lắp đòi hỏi một trình tự thời gian nhất định để đảm bảo các yêu cầu
về mặt kỹ thuật.
1.2.4.3. Thẩm định về mặt tài chính của dự án.
• Thẩm định về tổng vốn đầu tư của dự án
Xác định dòng tiền dự kiến hàng năm (tháng, quý…)
Dòng tiền ròng = Thu nhập trong kỳ - chi phí trong kỳ
NCF
i
= B
i
- C
i
Thu nhập trong kì (B
i
): Gồm tất cả các khoản thu của dự án như
doanh thu bán hàng, vốn đi vay, tiền thu của các hoạt động khác…
6
Chi phí trong kì (C
i
) : Gồm tất cả các khoản chi phí như: chi vốn
đầu tư, chi vốn lưu động thường xuyên, trả gốc và vốn vay ngân
hàng.
• Tính toán chỉ tiêu chi phí vốn của dự án
Để tính được các chỉ tiêu hiệu quả tài chính, đặc biệt là những chỉ tiêu
hiệu quả tài chính có chiết khấu, ta cần tính được chi phí sử dụng vốn bình
quân.
∑
∑
=
=
=
m
k
k
m
k
kk
I
rI
r
1
1
Trong đó : I
k
là số vốn đầu tư của nguồn vốn thứ k
r
k
là lãi suất tương ứng của nguồn vốn đó
m là số nguồn vốn huy động được cho dự án
• Tính toán chỉ tiêu thời gian hoàn vốn (the Payback Period)
Khái niệm : Thời gian hoàn vốn là khoảng thời gian cần thiết để cho thu
nhập ròng từ dự án vừa đủ bù đắp số vốn đầu tư ban đầu.
Thời gian hoàn vốn được tính theo hai cách : thời gian hoàn vốn giản đơn
(không có chiết khấu) và thời gian hoàn vốn có chiết khấu.
Thời gian hoàn vốn giản đơn
∑ ∑
= =
=−
T
i
T
i
ii
CB
0 0
0
Trong đó T: thời gian hoàn vốn giản đơn.
Chỉ tiêu này cho phép tính toán nhanh nhưng xét đến giá trị thời gian của
đồng tiền nên tính chính xác thấp.
Thời gian hoàn vốn có chiết khấu
Công thức
( ) ( )
∑ ∑
= =
−−
+=+
T
i
T
i
i
i
i
i
rCrB
0 0
11.
7
Ý nghĩa : T cho ta biết sau bao lâu dự án sẽ có thu nhập đủ bù chi phí vốn
đầu tư. Đối với hoạt động đầu tư, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường
đầy biến động và rủi ro thì thu hồi nhanh vốn đầu tư là vấn đề được chủ đầu
tư và ngân hàng rất quan tâm.
Ưu điểm:
Dễ xác định.
Độ tin cậy tương đối cao – Thời gian hoàn vốn là những năm
đầu khai thác, mức độ rủi ro ít hơn những năm sau. Các số liệu
dự báo đối với các năm đầu đạt độ tin cậy cao hơn so với các
năm sau.
Chỉ tiêu này giúp nhà đầu tư thấy rõ đến bao giờ thì vốn có thể
được thu hồi, do đó họ có thể quyết định có nên đầu tư hay
không. Chỉ tiêu này được các doanh nghiệp vừa và nhỏ (thiếu
vốn, đoản vốn), các nước chậm phát triển quan tâm nhiều vì
khả năng tài chính và dự báo thị trường kém.
Nhược điểm:
Không cho biết thu nhập lớn sau khi hoàn vốn. Đôi khi một
phương án có thời gian hoàn vốn dài, nhưng thu nhập về sau lại
cao hơn thì vẫn có thể là phương án tốt.
Phụ thuộc vào lãi suất chiết khấu. Nếu lãi suất càng lớn thì thời
gian hoàn vốn càng dài và ngược lại. vì vậy cần phải chọn lãi
suất chiết khấu sao cho phù hợp với từng dự án trên cơ sở tính
toán chi phí sử dụng vốn của từng dự án.
• Tính chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn đầu tư- ROI (Return on
Investment).
Chỉ tiêu ROI cho ta biết một đồng vốn đầu tư cho dự án được mấy đồng
lợi nhuận sau thuế. ROI là chỉ tiêu biểu hiện khả năng sinh lời của vốn đầu
tư cũnh như của dự án nói chung.
Công thức:
8
%100x
I
r
P
ROI =
Trong đó: I: tổng vốn đầu tư ban đầu.
P
r
: Lợi nhuận sau thuế hàng năm.
ROI khi tính xong được so sánh với ROI của các doanh nghiệp, các dự án
khác cùng ngành nghề và lĩnh vực.
• Tính chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng- NPV (Net Present Value).
Chỉ tiêu NPV cho ta biết quy mô tiền lời của dự án sau khi đã hoàn đủ
vốn. Khi tính toán chỉ tiêu này cũng dựa trên cơ sở giá trị hiện tại, tức là
phải xét đến chiết khấu.
Công thức:
( ) ( )
∑ ∑
=
−
=
−
+−+=
n
i
i
n
i
i
i
i
rCrBNPV
0 0
11
Trong đó: n: thời hạn đầu tư hoặc thời gian hoạt động của dự án
(năm).
i : năm thứ i.
B
i
: khoản thu hồi ròng của năm thứ i.
C
i
: Vốn đầu tư thực hiện tại năm thứ i.
r : lãi suất chiết khấu.
Vì NPV cho ta biết tổng giá trị hiện tại thu hồi ròng sau khi đã hoàn vốn
nên:
+ Nếu NPV > 0 dự án có lời, có thể đầu tư.
+ Nếu NPV = 0 dự án chỉ hoà vốn
+ Nếu NPV > 0 dự án lỗ.
NPV càng lớn càng có lợi, vì vậy nếu có hai dự án cần so sánh thì dự án
nào có NPV lớn hơn sẽ được chọn. Trường hợp có nhiều ds thì ta chọn ds có
giá trị hiện tại ròng tối đa (max NPV).
9
Ưu điểm : Phản ánh hiệu quả của việc đầu tư về phương diện tài chính. z
Nhược điểm:
Phụ thuộc vào lãi suất chiết khấu r càng lớn thì NPV càng nhỏ
và ngược lại. Do đó, cần chọn lãi suất chiết khấu sao cho phù
hợp với từng dự án, trên cơ sở tính toán chi phí sử dụng vốn
của từng dự án.
NPV cho biết khả năng sinh lợi của dự án dưới tác động của lãi
suất chiết khấu. Nói một cách khác, nó không cho ta biết được
tỷ lệ sinh lợi (lãi suất) mà bản thân dự án có thể tạo ra được.
• Tính suất thu hồi nội bộ- IRR (Internal Rate of Return).
Khái niệm: IRR là lãi suất chiết khấu r mà ứng với nó tổng giá trị hiện
tại thu hồi ròng bằng tổng giá trị hiện tại chi phí (tức NPV = 0).
Công thức:
( ) ( )
i
r1
n
0i
i
C
i
r1
n
0i
i
B
−
+
∑
=
=
−
+
∑
=
Cách xác định IRR:
Chọn suất chiết khấu r
1
, thường lấy bằng lãi suất vay vốn, ta tính được
NPV
1
.
Chọn suất chiết khấu r
2
để NPV
2
< 0 tính được NPV
2
.
Sao cho r
2
> r
1
và r
2
– r
1
≤ 5%
Tacó:
( )
21
1
121
NPVNPV
NPV
rrrIRRr
+
−+==
Chỉ tiêu IRR cho biết lãi suất mà bản thân dự án có thể mang lại cho nhà
đầu tư. IRR càng lớn càng tốt. Nếu có hai hoặc nhiều dự án cần so sánh thì
dự án nào có IRR tối đa (max IRR) sẽ được lựa chọn.
Nếu IRR < r; dự án sẽ không đủ tiền để trả nợ.
Nếu IRR = r: dự án chỉ vừa đủ tiền để trả nợ, nhà đầu tư không có lợi gì.
Nếu IRR > r: lúc này nhà đầu tư không những có thể trả được nợ mà còn
có lợi.
10
• Xác định điểm hoà vốn của dự án (Break Even Point Analysis)
Khái niệm: Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ trang trải
các khoản chi phí phải bỏ ra.
Xác định điểm hoà vốn:
Gọi: X - số lượng sản phẩm bán ra (cái)
a - giá bán một đơn vị sản phẩm (đồng/cái)
b - biến phí tính cho một đơn vị sản phẩm (đồng)
c- định phí (đồng)
Sản lượng hoà vốn:
ba
c
X
−
=
0
Doanh thu hoà vốn:
a
b
c
DT
−
=
1
0
2. Vốn trong doanh nghiệp(ngân hàng)
2.1. Khái niệm:
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, bất kỳ ngân hàng nào cũng
cần phải có một lượng vốn nhất định nhằm thực hiện các khoản đầu tư cần
11
x
1
x
2
x
hv
Doanh
thu
Y = aX Lãi
Y = bX + c
bX
E
c
Sản lượng
Lỗ
Đồ thị điểm hoà vốn
thiết ban đầu như chi phí thành lập ngân hàng, chi phí mua nguyên vật liệu,
trả tiền công, lãi vay , đồng thời đầu tư công nghệ, mua sắm máy móc thiết
bị để tái sản xuất mở rộng, phát triển ngân hàng. Do vậy, vốn đưa vào sản
xuất kinh doanh có nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra hàng
hoá, dịch vụ nhằm tiêu thụ trên thị trường. Số tiền doanh nghiệp thu về sau
quá trình tiêu thụ phải bù đắp được các chi phí bỏ ra và có lãi. Quá trình này
diễn ra liên tục bảo đảm sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Vậy: Vốn là một lượng tiền nào đó được đưa vào sử dụng trong
hoạt động sản xuất kinh doanh hay quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội
với tư cách là phương tiện tạo ra giá trị tăng thêm cho cá nhân và xã hội.
2.2. Vai trò của vốn:
Vốn được thể hiện dưới hình thái vật chất của toàn bộ tư liệu
sản xuất kết hợp với sức lao động trong quá trình sản xuất để tạo ra sản
phẩm. Do vậy vốn là nhân tố trực tiếp tác động đến kết quả sản xuất kinh
doanh.
Vốn bao gồm vốn cố định và vốn lưu động, trong đó vốn cố định là
nhân tố quyết định tính khả thi của trang thiết bị máy móc, cơ sở vật chất kỹ
thuật cũng như đổi mới công nghệ, đổi mới kỹ thuật sản xuất. Hơn nữa vốn
cố định còn là nhân tố quan trọng đảm bảo sự tái sản xuất mở rộng. Vốn cố
định là một nhân tố quyết định hiện đại hoá máy móc trang thiết bị của
doanh nghiệp. Vì vậy giúp cho việc nâng cao năng suất chất lượng và hạ giá
thành sản phẩm, tăng lợi nhuận - đảm bảo sự phát triển lâu dài của doanh
nghiệp.
Cũng như vốn cố định, vốn lưu động cũng có tính chất quyết định
đến kết quả sản xuất kinh doanh. Nó còn chi phối trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, nó quyết định việc kết hợp giữa các bộ phận và
trong từng bộ phận sản xuất, quyết định khả năng hoạt động tài chính của
doanh nghiệp tốt hay xấu, chu chuyển vốn nhanh hay chậm. Đặc biệt trong
khâu dự trữ và lưu thông, nếu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpluôn
được tiến hành một cách thường xuyên liên tục và sử dụng tối đa công suất
máy móc và thiết bị sẵn có.
12
2.3. Cấu tạo của nguồn vốn:
2.3.1. Vốn cố định
2.3.1.1. Khái niệm vốn cố định:
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng
trước về tài sản cố định, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng
phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài
sản cố định hết thời gian sử dụng.
2.3.1.2. Đặc điểm vốn cố định:
Trong nền sản xuất hàng hoá - tiền tệ, để mua sắm, xây dựng tài sản
cố định thì trước hết phải có một số vốn ứng trước - là khoản vốn ứng trước
về tài sản cố định, quy mô của vốn cố định sẽ quyết định quy mô của tài sản
cố định. Song đặc điểm vận động của tài sản cố định lại quyết định đến đặc
điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố định. Vốn cố định vận động trong
sản xuất kinh doanh như sau:
• Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất.
• Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần, sau thời gian
dài vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển vốn.
2.3.1.3. Phân loại vốn cố định:
Tài sản cố định thể hiện trong các báo cáo tài chính, trong các hoá
đơn mua hàng và trong sổ sách của đơn vị là giá trị bằng tiền. Do đó cấu
trúc của tài sản cố định cũng là cấu trúc của vốn cố định.Vậy nên trước hết
chúng ta hãy tìm hiểu " thế nào là tài sản cố định trong doanh nghiệp"?
Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu, được tham gia một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình kinh doanh của doanh nghiệp,
như: máy móc, thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải, các công tình kiến
trúc, các chi phí mua bằng sáng chế, các chi phí sử dụng và cải tạo đất
• Đặc điểm của tài sản cố định:
13
Tài sản cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh. Đối với tài
sản cố định có hình thái vật chất, khi tham gia vào quá trình kinh
doanh nó không thay đổi hình thái vật chất ban đầu.
Trong quá trình tham gia vào kinh doanh, tài sản cố định bị hao
mòn, giá trị hao mòn của tài sản cố định được chuyển dịch dần
dần vào giá trị của sản phẩm. Chỉ khi nào tài sản cố định bị hao
mòn, hư hỏng hoàn toàn hoặc xét thấy không có lợi về kinh tế thì
khi đó mới thay thế, đổi mới.
• Phân loại tài sản cố định (TSCĐ)
Trong doanh nghiệp, TSCĐ bao gồm 3 bộ phận chính: TSCĐ hữu hình,
TSCĐ vô hình và TSCĐ thuê tài chính. Tuy cũng là TSCĐ nhưng mỗi loại
lại có những đặc điểm riêng.
TSCĐ hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái
vật chất, có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào
nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất
ban đầu, như: nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị.
TSCĐ vô hình: là những TSCĐ không có hình thái vật chất, thể
hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến
nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, như: chi phí về bằng
phát minh, sáng chế; bản quyền tác giả; chi phí sử dụng đất
TSCĐ thuê tài chính: là những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê của
công ty cho thuê tài chính và trong hợp đồng thuê phải thoả mãn
ít nhất một trong bốn điều kiện sau đây:
1) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được
chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận
của hai bên.
2) Nội dung hợp đồng thuê có quy định: khi kết thúc thời hạn thuê,
bên thuê được quyền lựa chon mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp
hơn giá trị thực tế của tái sản thuê tại thời điểm mua lại.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét