không thể thanh toán trực tiếp cho nhau đợc, mà cần phải có sự tham gia của các ngân
hàng trong nớc và quốc tế. Chính vì vậy, ngân hàng trở thành trung gian thanh toán của
nền kinh tế. Bởi lẽ, nếu không có sự tham gia của ngân hàng vào thanh toán thì hoạt động
trao đổi lu thông hàng hoá sẽ bị ách tắc, chậm chạp, ảnh hởng đến sự phát triển của nền
kinh tế.
Với sự ra đời của ngân hàng, những chi trả về hàng hoá và dịch vụ cuả xã hội đợc
thực hiện qua ngân hàng với nhiều hình thức thanh toán đơn giản, thích hợp và kỹ thuật
ngày càng tiên tiến. Ngân hàng nhận làm thủ qũy cho doanh nghiệp, làm trung gian
thanh toán hộ các khoản giao dịch theo yêu cầu của hai bên mua - bán, với chức năng
trung gian thanh toán của Ngân hàng thơng mại, mặc dù không phải là chức năng chủ
đạo, nhng nó có vai trò cực kỳ quan trọng đối với hoạt động kinh doanh tiền tệ - tín dụng
của một Ngân hàng thơng mại. Nhờ có nghiệp vụ nhận tiền gửi thanh toán ngân hàng đã
tạo ra nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay, hỗ trợ cho việc thực
hiện chức năng trung gian tín dụng bởi qua chức năng này Ngân hàng thơng mại có thể
huy động đợc nguồn vốn có chi phí thấp. Khi nghiệp vụ thanh toán của ngân hàng đợc
thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm sẽ là nhân tố chủ yếu để thu hút
khách hàng giao dịch nhiều hơn với ngân hàng. Từ đó tăng qui mô huy động vốn và đẩy
mạnh hoạt động đầu t tín dụng. Trên cơ sở làm các dịch vụ thanh toán cho khách hàng,
còn giúp cho ngân hàng có thể kiểm soát đợc tình hình sử dụng vốn, và đa dạng hoá đợc
hoat động kinh doanh của ngân hàng
Thanh toán không dùng tiền mặt trong Ngân hàng thơng mại thờng đợc áp dụng cho
các khoản chi trả có giá trị lớn giữa các doanh nghiệp, cá nhân. Vì vậy, tăng tỷ trọng thanh
toán không dùng tiền mặt trong Ngân hàng thơng mại không chỉ có ý nghĩa về mặt tiết
kiệm tiền mặt, chi phí lu thông mà còn giúp cho công tác quản lý tài sản của doanh nghiệp
đợc tốt hơn. Trên cơ sở tài khoản tiền gửi và các khoản thanh toán đợc thực hiện qua ngân
hàng, đã giúp các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nh bộ chủ quản, cơ quan thuế có điều
kiện kiểm tra theo dõi doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh đợc chính xác. Đối
với ngân hàng, làm tốt chức năng thanh toán không dùng tiền mặt đã tập hợp đợc một khối
lợng vốn tiền gửi ổn định trong toàn hệ thống, vì giảm số d tiền gửi của khách hàng này thì
tăng số d tiền gửi của khách hàng khác.
Từ những cái đợc trên của thanh toán không dùng tiền mặt đã tạo cho Ngân hàng
thơng mại áp dụng một công cụ mới, công cụ tài khoản khách hàng để theo dõi ghi
5
chép tất cả các dịch vụ ngân hàng về tiền tệ, tín dụng và thanh toán bằng đồng tiền ghi
sổ thay thế cho tiền mặt.
Thanh toán không dùng tiền mặt là hình thức thanh toán thông qua trung gian thanh
toán của ngân hàng bằng cách trích chuyển vốn tiền tệ từ tài khoản tiền gửi thanh toán của
bên chi trả sang tài khoản tiền gửi của ngời thụ hởng .
Thanh toán không dùng tiền mặt là hình thức thanh toán ở các nớc kinh tế thị tr-
ờng phát triển nó chiếm vị thế và vai trò cực kỳ quan trọng trong công tác thanh toán
II- Thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế thị tr ờng
1. Những vấn đề cơ bản về thanh toán không dùng tiền mặt :
1.1. Bản chất của thanh toán không dùng tiền mặt
Thanh toán không dùng tiền mặt là chỉ các nghiệp vụ chi trả tiền hàng, dịch vụ và
các khoản khác trong nền kinh tế quốc dân đợc thực hiện bằng cách trích chuyển tài khoản
trong hệ thống tín dụng hoặc bù trừ công nợ mà không sử dụng tiền mặt.
Thanh toán không dùng tiền mặt xuất hiện từ lâu trong trong lịch sử loài ngời. Tuy
nhiên, nó chỉ thực sự đợc phát triển và hoàn thiện trong nền kinh tế thị trờng. Ngày nay,
thanh toán không dùng tiền mặt đợc áp dụng rộng khắp trong lĩnh vực tài chính, đối nội
cũng nh đối ngoại, nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chu chuyển tiền tệ và đợc coi là cách
thức thanh toán có hiệu quả nhất.
Xét về mặt bản chất, thanh toán không dùng tiền mặt phản ánh sự vận động của
vật t hàng hoá, dịch vụ lu thông. Sự phát triển rộng khắp của thanh toán không dùng tiền
mặt trong nền kinh tế thị trờng hiện đại là yêu cầu tất yếu của sự phát triển vợt bậc của
nền kinh tế hàng hoá. Do đó nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, khối lợng hàng hoá
dịch vụ trao đổi trong nớc cũng nh nớc ngoài tăng nhanh, tất yếu phải có cách thức trả
tiền thuận tiện, an toàn và tiết kiệm.
Mặt khác, thanh toán không dùng tiền mặt còn gắn với sự phát triển của hệ thống tài
chính - tín dụng, đặc biệt là sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Sự tồn tại và phát triển của
hệ thống này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ quan nhà nớc, tổ chức xã hội và cá
nhân mở tài khoản tiền gửi thanh toán tiền hàng - dịch vụ thông qua việc trích chuyển tài
khoản trong hệ thống này. Thanh toán không dùng tiền mặt là một phạm trù vừa mang tính
chất lý thuyết trừu tợng, vừa mang tính công nghệ cụ thể:
6
- Đứng về mặt phạm trù lý luận, thanh toán không dùng tiền mặt là sự vận động
của tiền tệ. ở đây tiền vừa là công cụ kế toán, vừa là công cụ để chuyển hoá giá trị của
hàng hoá dịch vụ.
- Đứng về mặt công nghệ thì thanh toán không dùng tiền mặt là những nghiệp vụ
phải thông qua nhiều giai đoạn liên hoàn, đòi hỏi những thao tác về kỹ thuật thanh toán
tinh vi và phức tạp.
1.2. Đặc điểm của thanh toán không dùng tiền mặt
Thứ nhất: Trong thanh toán không dùng tiền mặt, tiền tệ và hàng hoá vận động
ngợc chiều với nhau.
Việc thanh toán không phải thực hiện bằng cách trao trả trực tiếp tiền hàng
giữa ngời mua và ngời bán mà đợc thực hiện bằng cách trích chuyển vốn từ tài khoản
tiền gửi của ngời mua sang tài khoản của ngời bán sau khi hàng hoá đã hoặc đang vận
chuyển từ ngời bán tới ngời mua.
Thứ hai: Thanh toán không dùng tiền mặt sử dụng tiền ghi sổ hay còn gọi là
tiền bút tệ.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất của thanh toán không dùng tiền mặt. Việc thanh
toán đợc thực hiện bằng cách trích chuyển tiền từ tài khoản của ngời trả tiền chuyển vào
tài khoản của ngời thụ hởng tại ngân hàng, kho bạc nhà nớc hoặc bằng cách bù trừ lẫn
nhau.
Thứ ba : Trong thanh toán không dùng tiền mặt, mỗi khoản thanh toán ít nhất có
ba bên tham gia đó là: Ngời trả tiền, ngời nhận tiền và các trung gian thanh toán.
- Ngời trả tiền có thể là ngời mua hàng, ngời nhận dịch vụ, ngời nộp thuế, trả nợ
hoặc ngời chuyển nhợng một khoản tiền nào đó do thiện chí hay do luật định. Ngời trả
tiền đóng vai trò quyết định trong việc thanh toán. Có thể họ là ngời mở đầu hoặc tiếp nối
trong quá trình thanh toán đã đợc ngời nhận tiền khởi xớng. Ngời trả tiền có nhiệm vụ
phải trả đúng hạn số tiền phải trả và tôn trọng những thủ tục cần thiết nh lập và nộp chứng
từ thanh toán theo mẫu qui định và thời hạn qui định hoặc đã đợc thoả thuận trớc. Ngời trả
tiền có quyền từ chối thanh toán nếu các chủ thể khác vi phạm những cam kết hay những
qui định đã thoả thuận giữa hai bên.
- Ngời nhận tiền hay còn đợc gọi là ngời thụ hởng là ngời đợc hởng một khoản tiền
nào đó do đã giao hàng, cung ứng dịch vụ hoặc do luật định hoặc do thiện chí của ngời
7
khác. Đối với ngời nhận tiền là ngời bán hay cung ứng dịch vụ thì cở sở để nhận tiền là các
chứng từ hay hoá đơn giao hàng. Trong trờng hợp ngời nhận tiền với t cách là tổ chức tài
chính, cơ sở nhận tiền là các quyết định, lệnh phân phối của cấp trên. Trong trờng hợp ngời
nhận tiền là các chủ nợ thì cơ sở để nhận tiền là các hợp đồng hay khế ớc vay nợ.
- Các trung gian thanh toán là các tổ chức tài chính nh Ngân hàng thơng mại,
Kho bạc nhà nớc.
Khi tiến hành các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt phải sử dụng các
chứng từ thanh toán riêng. Chứng từ thanh toán là các phơng tiện chuyển tải những điều
kiện thanh toán và đợc sử dụng làm căn cứ để thực hiện việc chi trả. Chứng từ thanh
toán gồm lệnh thu hoặc lệnh chi có những mức độ phức tạp khác nhau, nhng dù sao thì
mỗi chứng từ thanh toán cũng phải chứa đựng những yếu tố cơ bản nh: Tên, địa chỉ ng-
ời trả và ngời nhận, số tiền trả, lý do trả tiền, chữ ký và dấu của chủ tài khoản - kế toán
trởng hay ngời thừa hành trực tiếp lập chứng từ. Kèm theo lệnh chi hoặc lệnh thu có thể
còn có các giấy tờ phụ trợ khác nh: Giấy báo liên hàng, Bảng kê thanh toán vv. Những
chứng từ này phục vụ cho việc xử lý kế toán của các trung gian thanh toán
1.3. Những qui định có tính nguyên tắc trong thanh toán không dùng tiền mặt
Muốn tổ chức và thực hành công tác thanh toán không dùng tiền mặt trong nền
kinh tế, ngoài tổ chức cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ làm công tác thanh toán cần phải
nghiên cứu sâu sắc lý luận xã hội, chế độ thể lệ thanh toán khoa học và thực tiễn đảm
bảo công tác thanh toán đợc thực hiện thuận tiện, an toàn, chính xác và nhanh chóng.
Hiện nay thanh toán không dùng tiền mặt đợc thực hiện trên cơ sở: Nghị định số 30/
CP ngày 09/05/1996 của Chính phủ ban hành về Quy chế phát hành và sử dụng séc;
Thông t số 07/TT-NH1 ngày 31/02/1994 của Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam hớng dẫn
thực hiện Nghị định số 30/CP; Quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN1 ngày 19/10/1999
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam về việc ban hành Quy chế phát hành, sử
dụng và thanh toán thẻ ngân hàng và Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20/9/2001 của
Chính phủ về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (có
hiệu lực từ ngày 01/01/2002). Nội dung của các văn bản pháp qui đợc tóm tắt thành
những qui định có tính nguyên tắc sau :
1.3.1. Mở và sử dụng tài khoản thanh toán:
8
Tài khoản thanh toán là tài khoản do ngời sử dụng dịch vụ thanh toán mở tại các
tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán để thực hiện giao dịch thanh toán theo quy định
của Ngân hàng Nhà nớc.
* Mở tài khoản thanh toán
- Ngân hàng Nhà nớc mở tài khoản thanh toán cho các tổ chức tín dụng trong n-
ớc, các tổ chức khác đợc làm dịch vụ thanh toán và các ngân hàng nớc ngoài, tổ chức
tiền tệ, ngân hàng quốc tế.
Ngân hàng Nhà nớc đợc mở tài khoản thanh toán tại các ngân hàng nớc ngoài, tổ
chức tiền tệ, ngân hàng nớc ngoài.
- Các tổ chức tín dụng là ngân hàng mở tài khoản thanh toán cho các tổ chức tín
dụng khác, các tổ chức khác và cá nhân. Ngân hàng thơng mại nhà nớc mở tài khoản
thanh toán cho Kho bạc nhà nớc ở huyện, thị xã không phải là tỉnh lỵ
Tổ chức tín dụng mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng Nhà nớc và các ngân hàng.
Tổ chức tín dụng là ngân hàng đợc mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng nớc ngoài khi đợc
Ngân hàng Nhà nớc cho phép thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế.
- Kho bạc Nhà nớc mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng Nhà nớc. ở huyện, thị
xã không phải là tỉnh lỵ. Kho bạc Nhà nớc mở tài khoản thanh toán tại một ngân hàng
thơng mại nhà nớc.
- Các tổ chức khác đợc làm dịch vụ thanh toán mở tài khoản thanh toán cho ngời sử
dụng dịch vụ thanh toán theo quy định của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền.
- Ngời sử dụng dịch vụ thanh toán có quyền chọn ngân hàng và các tổ chức khác
đợc làm dịch vụ thanh toán để mở tài khoản thanh toántrừ trờng hợp pháp luật có quy
định khác.
* Sử dụng tài khoản và uỷ quyền sử dụng tài khoản.
- Chủ tài khoản có quyền sử dụng số tiền trên tài khoản thanh toán phù hợp với
quy định của Ngân hàng Nhà nớc và pháp luật khác có liên quan.
- Chủ tài khoản có nghia vụ tuân thủ các quy định của Nghị định này và pháp
luật khác có liên quan trong việc sử dụng tài khoản thanh toán.
9
- Chủ tài khoản đợc uỷ quyền cho ngời khác bằng van bản sử dụng tài khoản theo
quy định của pháp luật. Ngời đợc uỷ quyền có quyền hạn và nghĩa vụ nh chủ tài khoản
trong phạm vi uỷ quyền và không đợc uỷ quyền lại cho ngời thứ ba
* Sử dụng và uỷ quyền sử dụng tài khoản của đồng chủ tài khoản.
Ngoài các quy định về sử dụng tài khoản và uỷ quyền sử dụng tài khoản, việc sử
dụng tài khoản của đồng chủ tài khoản còn phải tuân theo các quy định sau:
- Mọi giao dịch thanh toán trên tài khoản chỉ đợc thực hiệ khi có sự chấp thuận
của tất cả những ngời là đồng chủ tài khoản.
- Đồng chủ tài khoản đợc uỷ quyền cho ngời khác sử dụng tài khoản trong phạm
vi quyền và nghĩa vụ của mình. Việc uỷ quyền phải đợc lập thành văn bản theo quy
định của pháp luật.
- Trờng hợp một đồng chủ tài khoản bị chết, bị tuyên bố mất tích hoặc mất năng
lực hành vi dân sự thì quyền sử dụng tài khoản và nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài
khoản của ngời đó đợc thựchiện theo quy định của pháp luật.
* Tài khoản thanh toán, điều kiện, thủ tục mở và sử dụng tài khoản thanh toán
Loại tài khoản thanh toán, tính chất tài khoản thanh toán, điều kiện, thủ tục mở và
sử dụng tài khoản thanh toán do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định phù hợp với
quy định của Ngân hàng Nhà nớc và các quy định khác của pháp luật.
* Phong toả tài khoản
Tài khoản thanh toán bị phong toả một phần hoặc toàn bộ số tiền có trên tài
khoản trong các trờng hợp sau:
+ Khi có sự thoả thuận giữa chủ tài khoản và ngời cung ứng dịch vụ thanh toán;
+ Khi có quyết dịnh hoặc yêu cầu bằng văn bản của ngời có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật;
+ Các trờng hợp khác do pháp luật quy định;
Việc phong toả tài khoản thanh toán chấm dứt khi:
+ Kết thúc thời hạn thoả thuận phong toả tài khoản giữa chủ tài khoản và tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán;
10
+ Ngời có thẩm quyền theo quy định của pháp luật ra quyết định hoặc yêu cầu
chấm dứt việc phong toả.
+ Theo quy định của pháp luật.
* Đóng tài khoản
Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đóng tài khoản thnah toán trong các trờng
hợp sau:
+ Khi chủ tài khoản yêu cầu;
+ Khi cá nhân có tài khoản bị chết, mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự;
+ Khi tổ chức có tài khoản chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật.
Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đợc quyền quyết định việc đóng tài khoản khi
chủ tài khoản vi phạm pháp luật trong thanh toán hoặc vi phạm thoả thuận với tổ chức ung
ứng dịch vụ thanh toán; hoặc khi tài khoản có số d thấp và không hoạt động trong thời hạn
nhất định theo quy định của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
1.3.2. Đảm bảo khả năng thanh toán
Ngời sử dụng dịch vụ thanh toán phải bảo đảm có đủ tiền trên tài khoản thanh
toán để thực hiện lệnh thanh toán mà mình đã lập, trừ trờng hợp có thoả thuận thấu chi
với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
1.3.3. Thực hiện lệnh thanh toán
Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ, kịp thời lệnh
thanh toán của ngời sử dụng dịch vụ thanh toán phù hợp với quy định hoặc thoả thuận
của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đối với ngời sử dụng dịch vụ thanh toán nhng
không trái pháp luật.
1.3.4. Phí dịch vụ thanh toán
Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đợc quyền thu phí của ngời sử dụng dịch vụ
thanh toán
1.3.5 . Chứng từ thanh toán:
Tất cả các chứng từ thanh toán của các chủ thể thanh toán đều phải lập trên mẫu in
sẵn do ngân hàng in và nhợng bán. Những chứng từ đó phải lập đủ liên, viết rõ ràng không
tẩy xoá và phải nộp vào ngân hàng theo đúng qui định. Các ngân hàng có quyền từ chối
11
thanh toán hoặc không chấp nhận thanh toán trong trờng hợp chủ thể thanh toán vi phạm
một trong những qui định của chế độ thanh toán hiện hành.
1.3.6. Trách nhiệm của ngân hàng:
Các ngân hàng có trách nhiệm hớng dẫn cho khách hàng làm các thủ tục thanh
toán, giám sát khả năng chi trả của khách hàng, cung cấp đầy đủ và kịp thời các loại
giấy tờ thanh toán cần thiết cho khách hàng theo chế độ qui định. Các ngân hàng có
trách nhiệm thông báo và đối chiếu thờng xuyên với các chủ tài khoản về số d tài
khoản tiền gửi.
Khi nhận đợc các chứng từ thanh toán của khách hàng gửi đến, các ngân hàng phải
kiểm tra khả năng thanh toán của chủ tài khoản trớc khi thực hiện thanh toán và có quyền
từ chối thanh toán nếu tài khoản không đủ tiền. Ngân hàng phải thanh toán kịp thời, chính
xác và đảm bảo an toàn tài sản cho khách hàng. Nếu do thiếu sót gây thiệt hại cho khách
hàng thì ngân hàng phải bồi thờng vật chất cho bên bị hại và tuỳ theo mức độ vi phạm có
thể bị xử lý theo pháp luật. Khi thực hiện dịch vụ thanh toán cho khách hàng, ngân hàng đ-
ợc thu phí theo qui định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc.
Trên đây là một số qui định có tính nguyên tắc cơ bản nhằm mục đích vừa đảm
bảo cho quá trình thanh toán đợc thực hiện đúng đắn, vừa đảm bảo cho sự kiểm soát
bằng đồng tiền của hệ thống ngân hàng đối với các hoạt động của các chủ thể thanh
toán có hiệu quả.
2- Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam hiện nay:
Hiện nay, trên thế giới ngời ta đã nghiên cứu và áp dụng nhiều hình thức thanh
toán không dùng tiền mặt rất đa dạng và phong phú. Nhng ở mỗi nớc tuỳ theo mô hình
kinh tế, trình độ quản lý, tuỳ theo mức độ hoàn thiện và hiệu năng của hệ thống ngân
hàng, ngời ta lựa chọn một số hình thức và cụ thể hoá cho phù hợp với điều kiện, đặc
thù của mỗi nớc.
ở Việt Nam hiện nay, nền kinh tế cơ bản đã chuyển sang nền kinh tế thị trờng. Vị trí,
vai trò chức năng của doanh nghiệp, của Ngân hàng thơng mại và của Ngân hàng trung ơng
đã thay đổi theo mô hình kinh tế thi trờng. Chính vì vậy, chế độ thanh toán không dùng tiền
mặt cũng đợc hoàn thiện hơn để phù hợp với thực tiễn.
Thanh toán không dùng tiền mặt đợc quy định trong Nghị định số 64/2001/NĐ-CP
ngày 20/9/2001 của Chính phủ bao gồm những hình thức sau :
12
Hình thức thanh toán bằng séc.
Hình thức thanh toán bằng lệnh chi hoặc uỷ nhiệm chi.
Hình thức thanh toán bằng uỷ nhiệm thu
Hình thức thanh toán bằng thẻ thanh toán
Hình thức thanh toán bằng th tín dụng
Trong đó, hình thức thanh toán bằng séc tuân theo Nghị định số 30/CP ngày
09/5/1996 của Chính phủ và Thông t hớng dẫn số 07/TT-NH1 ngày 31/02/1994 của
Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam
2.1. Thanh toán bằng séc
Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản đợc lập trên mẫu do Ngân hàng nhà nớc qui
định yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích tiền từ tài khoản tiền gửi của mình để trả cho
ngời thụ hởng có tên trên séc hay ngời cầm tờ séc đó.
Séc là một loại chứng từ thanh toán đợc áp dụng rộng rãi ở tất cả các nớc trên thế
giới, qui định sử dụng séc đã đợc chuẩn hoá trên luật thơng mại quốc gia và trên công -
ớc quốc tế.
Nghị định 30/CP của Chính phủ quy định rõ ở Việt Nam đợc phép lu hành các loại
séc vô danh và séc ký danh đợc phép chuyển nhợng thông qua thủ tục ký hậu chuyển nh-
ợng. Nghị định 30/CP ra đời đã đánh dấu một bớc chuyển biến có ý nghĩa kinh tế lớn trong
việc sử dụng séc ở Việt Nam. Theo nghị định này, séc không còn là một công cụ chuyển
khoản đơn thuần mà còn phát huy đợc vai trò là công cụ lu thông.
Séc đợc dùng để thanh toán tiền hàng, dịch vụ nộp thuế trả nợ vv, hoặc đợc dùng
để rút tiền mặt tại các chi nhánh ngân hàng. Tất cả các khách hàng mở tài khoản tại ngân
hàng đều có quyền sử dụng séc để thanh toán. Thời hạn hiệu lực của tờ séc là 15 ngày kể
từ ngày chủ tài khoản phát hành séc đến ngày ngời thụ hởng nộp séc vào ngân hàng (gồm
cả ngày chủ nhật và ngày lễ).
Một tờ séc đủ điều kiện để thanh toán là tờ séc đảm bảo các yếu tố sau:
- Tờ séc phải có đủ các yếu tố và nội dung quy định, không bị tẩy xoá, sửa chữa,
số tiền bằng chữ và bằng số phải khớp nhau.
- Tờ séc phải nộp trong thời gian hiệu lực thanh toán.
- Không có lệnh đình chỉ thanh toán.
13
- Chữ ký và mẫu dấu ( nếu có ) của ngời phát hành sécphải khớp đúng với mẫu
đã đăng ký tại ngân hàng.
- Không ký phát hành séc vợt quá thẩm quyền quy định tại văn bản uỷ quyền.
- Tài khoản tiền gửi của Chủ tài khoản đủ số d để thanh toán.
- Các chữ ký chuyển nhợng (đối với séc ký danh) phải liên tục.
ở Việt Nam hiện nay có các loại séc sau : Séc dùng để lĩnh tiền mặt, séc chuyển
khoản, séc bảo chi ( Nếu khách hàng yêu cầu ).
2.1.1. Séc lĩnh tiền mặt
Séc lĩnh tiền mặt là loại séc chỉ đợc dùng để rút tiền mặt tại ngân hàng nơi đơn vị
mở tài khoản.
Séc dùng để lĩnh tiền mặt khi có hai đờng song song chéo góc ở phía trên bên
trái hoặc không có chữ chuyển khoản ở mặt trớc tờ séc.
Khi có nhu cầu lĩnh tiền mặt ngời phát hành séc phải ghi tên pháp nhân (hoặc cá
nhân), địa chỉ hoặc số hiệu tài khoản và tên ngân hàng vào nơi quy định của mặt trớc
tờ séc. Khi lĩnh tiền mặt, ngời lĩnh tiền phải nộp vào ngân hàng nơi phát hành séc tờ séc
lĩnh tiền mặt ghi đầy đủ các yếu tố đã quy định. Trờng hợp ngời thụ hởng đứng tên cá
nhân, đồng thời là ngời trực tiếp lĩnh tiền thì không cần có giấy uỷ quyền. Các trờng
hợp khác, phải có giấy uỷ quyền của ngời thụ hởng (uỷ quyền từng lần hoặc uỷ quyền
có thời hạn ).
2.1.2. Séc dùng thanh toán chuyển khoản
Séc thanh toán chuyển khoản là loại séc do chủ tài khoản phát hành và giao trực tiếp
cho ngời thụ hởng để thanh toán tiền hàng, dịch vụ và các khoản thanh toán khác.
Khác với séc lĩnh tiền mặt, khi phát hành séc thanh toán chuyển khoản, chủ tài
khoản phải gạch hai đờng song song chéo góc hoặc viết chuyển khoản ở góc phía trên
bên trái mặt trớc tờ séc trớc khi giao cho ngời thụ hởng.
Séc chuyển khoản đợc dùng để thanh toán giữa các chủ thể mở tài khoản tại cùng
một chi nhánh ngân hàng . Nếu thanh toán khác chi nhánh ngân hàng thì các ngân hàng
đó phải tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn.
Về nguyên tắc, séc thanh toán chuyển khoản phải đợc phát hành trên cơ sở số d
tài khoản tiền gửi hiện có tại ngân hàng. Nếu tài khoản tiền gửi không đủ séc để thanh
toán, sẽ bị ngân hàng từ chối thanh toán, chủ tài khoản phải chịu trách nhiệm thanh
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét