Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Thuế quan(Thuế NK) Việt nam trong quá trình hội nhập AFTA

hàng nằm trong Danh mục u đãi của Singapore đã có thuế suất ở mức 0%, khiến cho tỷ
lệ miễn giảm trung bình là 2,3%
Mặc dù vậy, cho tới trớc Hội nghị Cấp cao Manila, quá trình thực hiện PTA
tiến triển hết sức chậm chạp. Vẫn còn rất nhiều mặt hàng nằm ngoài danh sách PTA.
Nguyên nhân đầu tiên là thái độ thiếu tin cậy lẫn nhau giữa các nớc trong quá trình
thực hiện PTA. Sau khi cam kết cắt giảm thuế, các nớc ASEAN tìm cách khai thác
những biện pháp khác tạo ra hàng rào phi thuế quan nằm bảo vệ những quyền biện
pháp kháo tạo ra hàng rào phi thuế quan nằm bảo vệ những quyền lợi của mình, cản trở
quan hệ buôn bán giữa các nớc thành viên. Do vậy, tỷ trọng các mặt hàng đợc hởng
quy chế PTA rất thấp. Năm 1987, trong số 1278 mặt hàng đa vào danh sách PTA chỉ
có 322 mặt hàng hàng (2,6%) thực sự đợc bảo đảm bằng u đãi về thuế. Tơng ứng với
số lợng mặt hàng này là 19% tổng giá trị buôn bán nội bộ ASEAN. Hơn nữa, những
mặt hàng có giá trị buôn bán nội bộ ASEAN. Hơn nữa, những mặt hàng có giá trị buôn
bán lớn chiếm một tỷ lệ cao trong danh sách những mặt hàng bị hạn chế (ở Malaysia
tỷ lệ này là 60 - 80%)
Mặc dù quan hệ buôn bán nội bộ ASEAN tăng nhanh xét về tỷ trọng của nó
trong tổng số thơng mại thời kỳ đầu những năm 80, nhng điều đó không phải là kết
quả thực hiện PTA. Buôn bán trong nội bộ ASEAN tăng chủ yếu là do tăng buôn bán
dầu lửa. Dầu lửa chiếm tới 50% giá trị buôn bán giữa các nớc này, nên dầu là yếu tố
chính trong tăng buôn bán khu vực. Còn trên thực tế, tác động của PTA ở đây rất hạn
chế. Tỷ lệ buôn bán dựa trên PTA chiếm 5% tổng giá trị ngoại thơng. Đó là nguyên
nhân thứ nhất.
Nguyên nhân thứ hai là việc cắt giảm thuế cha đạt tới mức độ cần thiết để tạo ra
những kích thích mạnh mẽ việc buôn bán. Các nớc dờng nh chỉ u đãi các mặt hàng với
vai trò ít quan trọng trong buôn bán quốc tế và khu vực. Ví dụ, Thái Lan dành sự u đãi
lớn cho việc nhập khẩu gỗ, mặt hàng mà nớc này không hề nhập. Cũng nh vậy, các
ngành công nghiệp có lợi thế so sánh lớn cũng không đợc u đãi. Trong khi đó, việc
giảm thuế chỉ hớng vào các ngành khá nhỏ.
Nhận thấy quan hệ hợp tác kinh tế bắt đầu rơi vào trạng kém khả quan, bó hẹp
trong những mục tiêu ngắn hạn, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ ba năm 1989 tại
Manila đã nhấn mạnh tới một số vấn đề gây cấn cản trở việc thực hiện PTA. Tại hội
5
nghị này, các vấn đề về việc hoàn thiện PTA đã đợc thảo luận. Các nớc thành viên cam
kết thực hiện cắt giảm số lợng mặt hàng nằm trong danh mục hạn chế chỉ còn lại 10%
và giá trị của chúng không vợt quá 50% tổng giá trị buôn bán trong khu vực. Thủ tục
đa các mặt hàng mới vào danh sách đợc u đãi của PTA cũng thay đổi từ việc xem xét
hàng năm sang chơng trình 5 năm (từ 1988 đến 1992).
Sau một thời gian thực hiện chơng trình này, đã có một số tiến bộ. Số mặt hàng -
u đãi tăng, mức tăng thay đổi theo từng nớc.
Tuy nhiên, không phải cả các nớc đều thực hiện đầy đủ và cho đến thời điểm đó,
sự đóng góp của PTA đối với buôn bán trong khu vực, xét về giá trị tuyệt đối cũng nh
tỷ trọng vẫn còn ít. Mắc tăng nhapạ khẩu và xuất khẩu giữa các nớc còn thấp. Ví dụ tỷ
trọng xuất khẩu của Indonesia tới các thành viên theo PTA chỉ tăng từ 1,4% năm 1986
lên 3,5% năm 1989. Trong khi đó tỷ trọng nhập khẩu còn thấp hơn, từ 1,2% lên 1,6%.
Tuy nhiên nhịp độ tăng trởng này cũng vào loại khá so với mức tăng trởng chung của
toàn thế giới.
Nhìn chung, tuy có một số tiến bộ nhng tốc độ tự do hoá thơng mại thực hện
trong khuôn khổ PTA vẫn còn rất chậm và hạn chế. Những biện pháp mở rộng buôn
bán thực chất chỉ là những biện pháp nhằm những mục tiêu ngắn hạn.
Do vậy, các nớc thành viên ASEAN thấy cần thiết phải có một cơ chế hợp tác
mang tính thể chế, thống nhất tiêu chí phối hợp hành động, tăng mức u đãi, đơn giản
hoá các thủ tục, nhắm tới những mục tiêu xa hơn.
Nhất là sau chiến tranh lạnh, sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng của hàng
loạt các nớc nh Trung Quốc, ấn Độ và các nớc Đông Âu, các quốc gia ASEAN ngày
càng có nhều đối thủ cạnh tranh thu hút đầu t nớc ngoài và cạnh tranh thơng mại. Các
nền kinh tế ASEAN đứng trớc những thách thức mới do sự xuất hiện của những tổ
chức hợp tác khu vực hơn hẳn về quy mô, tiềm năng và trình độ phát triển nh EU,
NAFTA.
Trớc sức ép của chủ nghĩa khu vực và xu hớng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới,
ngày càng có nhiều dấu hiệu làm mất đi các lợi thế cạnh tranh của các nớc ASEAN,
buộc các nớc ASEAN phải có sự thống nhất phối hợp hành động, nỗ lực tìm những
biện pháp thúc đẩy nhanh chóng buôn bán nội bộ và tự do hoá quan hệ thơng mại.
6
Hàng loạt cuộc gặp gỡ giữa các quan chức chính phủ ASEAN đã diễn ra nhằm
giải quyết nhu cầu cấp bách trên. Ngày 28/1/1992, tại Hội nghị Thợng đỉnh ASEAN
lần thứ 4 diễn ra tại Singapore, các nớc thành viên ASEAN đã chính thức ký kết các
văn kiện thành lập AFTA.
Một trong những văn kiện quan trọng nhất đối với việc thành lập AFTA là Hiệp
định về u đãi thuế quan có hiệu lực chung dành cho AFTA (CEPT). Trên nguyên tắc,
Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đã đợc thông qua tháng 10 - 1991
thay thế choi PTA.
Theo hiệp định CEPT , các nớc ASEAN thoả thuận giảm thuế quan trong thơng
mại nội bộ ASEAN xuốn còn từ 0% đến 5%, loại bỏ các hạn chế về định lợng và các
hàng rào phi thuế quan, đồng thời tăng cờng hợp tác trong lĩnh vực hải quan. Chơng
trình thực hiện CEPT ban đầu đợc dự kiến kéo dài trong vòng 15 năm, bắt đầu từ
1/3/1993, hoàn thành vào 1/1/2008. Tuy nhiên, với những kết quả khả quan theo hớng
đẩy mạnh tự do hoá thơng mại của các vòng đàm phán U rugoay, trớc những bớc tiến
nhanh của Khu vực thơng mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) và kế hoạch tự do hoá thơng
mại đầy tham vọng nhng cũng rất khả thi của Tổ chức Hợp tác kinh tế Châu á - Thái
Bình Dơng (APEC), tại Hội nghị Bộ trởng ASEAN lần thứ 26 họp tại Thái Lan (tháng
9/1994), các nớc ASEAN đã thống nhất về nguyên tắc sẽ hoàn thành thực hiện AFTA
sớm hơn, kết thúc vào năm 2003. Quyết đinh này đã đợc chính thức hoá tại Hội nghị
cấp cao ASEAN lần IV họp vào tháng 9/1995 tại Bangkok. Tại Hội nghị Cấp cao
ASEAN chính thức lần thứ VI họp tại Hà Nội tháng 12/1998, các nớc ASEAN đã
thống nhất đẩy nhanh hơn nữa tiến trình thực hiện AFTA.
Tổng th ký hiệp hội các nớc Đông Nam á Rodoflo Severino đề nghị ASEAN
nên đẩy nhanh thời hạn chót đề ra đến hết năm 2010 phải xoá bỏ mọi hàng rào thuế
quan nhằm đơng đầu với sự cạnh tranh ngày càng tăng vào đầu t. Phát biểu tại diễn
đàn thông tin tại Manila, Ông Severino cho biết nếu đợi đến năm 2010 ASEAN mới dỡ
bỏ mọi hàng rào thuế quan trong khi các nớc đa ra thời hạn chót mới vì cho rằng thời
hạn này sẽ do các nớc thành viên ASEAN đề ra. Năm 1993, ASEAN đã đề ra một kế
hoạch giảm thuế quan để thành lập khu vực tự do thơng mại ASEAN (AFTA), kế
hoặch AFTA đã đạt một bớc lớn hồi tháng 1/2002 khi 6 nớc thành viên cũ ASEAN và
cũng là 6 nớc ký AFTA đầu tiên là Brunây, Inđonêxia, Malaixia, Philippin, Xingapo và
7
Thái Lan đã giảm thuế quan ở mỗi nớc xuống từ 0-5%. Sáu nớc này chiếm hơn 96%
kim ngạch thơng mại trong khu vực.
Mục tiêu giảm thuế xuống từ 0-5% đã đợc các nớc ASEAN đẩy nhanh gấp đôi,
một phần là để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 đã đẩy khu vực này
rơi vào suy thoái nghiêm trọng nhất trong lịch sử. Các nhà lãnh đạo ASEAN đã quyết
định lấy năm 2010 là năm huỷ bỏ hoàn toàn thuế đối với buôn bán của các nớc thành
viên cũ trong ASEAN. Trong khi thời hạn chót đối với các nớc thàh viên mới là vào
năm 2015. Mức thuế trung bình đối với hàng hoá buôn bán trong khu vực ASEAN ớc
tính vào khoảng 3,5%, giảm so với 12,76% khi AFTA đợc khởi xớng năm 1993.
Theo hiệp định tự do thơng mại ASEAN, những hàng hoá buôn bán giữa các n-
ớc thành viên ASEAN đợc miễn thuế nếu những mặt hàng này có tỉ lệ nội địa ít nhất
40%. Ông Severino cho biết các nớc thành viên ASEAN nên đề ra thời hạn chính xác
hơn để các nớc này giảm thuế xuống 0% với tốc độ nhanh hơn. Ông cho biết ngoài
thời hạn chót là năm 2010-2015 để các nớc thành viên cũ và mới trong ASEAN bãi bỏ
hoàn toàn thuế, một tiêu chuẩn khác để thực hiện kế hoạch AFTA là vào năm 2003
giảm xuống 0% thuế đối với các mặt hàng hiện bị đánh thuế tới 60%. Ông cho rằng
ASEAN sẽ phải tăng cờng nỗ lực hội nhập khu vực do các khu vực khác nên nỗ lực bãi
bỏ hàng rào phi thuế quan đối với buôn bán trong khu vực , trong đó có các quy định
kiểm dịch y tế và phân phối độc quyền . Kim ngạch thơng mại trong khu vực Châu á,
đạt hơn 700 tỉ USSD. Các nhà lãnh đạo ASEAN đang có kế hoạch thành lập một khu
vực tự do thơng mại Đông á lớn bao gồm ASEAN, Trung Quốc, Nhật bản và Hàn
Quốc, trở thành một thị trờng gồm hơn 2 tỉ ngời.
Bằng cách tạo dựng nền tảng thuế quan chung trong khuôn khổ AFTA, các quốc
gia thành viên ASEAN sẽ có thể tạo ra đợc sự tơng hợp, phát huy đợc lợi thế so sánh
của mình trong quá trình tổ chức sản xuất và phân công lao động khu vực.
2. Các mục tiêu cơ bản của AFTA
AFTA đợc thiết lập nhằm vào các mục tiêu cơ bản sau đây:
Tự do hoá thơng mại nội bộ ASEAN
Đây là mục tiêu đầu tiên, đợc thực hiện bằng cách loại bỏ hàng rào thuế quan và
phí thuế quan, nhờ đó sẽ mang lại cho các quốc gia ASEAN một thị trờng rộng hơn,
thị phần thơng mại lớn hơn.
8
Có thể thấy rằng công nghiệp hoá đã làm tăng nhanh chóng quy mô buôn bán
giữa các nền kinh tế ASEAN. Ngời ta tính rằng, vào đầu những năm 90, phần xuất
khẩu nội bộ ASEAN trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm nớc này đã đạt khoảng
20%. Khuynh hớng liên kết thơng mại khu vực ngày càng trở nên mạnh mẽ. Hơn nữa,
do đặc tính hớng ngoại của nền kinh tế ASEAN, các nền kinh tế này sẽ thuận lợi hơn
trong việc tiến tới tự do hoá. Điều này mặc dù không thể giúp các quốc gia thành viên
ASEAN đạt đợc những thoả thuận thơng mại lớn cho thị trờng khu vực nh EU, AFTA,
song chí ít nó cũng hỗ trợ cho các quốc gia này đẩy nhanh tăng trởng, thay đổi cơ cấu,
bổ sung lẫn nhau theo hớng trở thành một đối tác cạnh tranh có u thế so với các thị tr-
ờng khu vực khác.
Thu hút các nhà đầu t nớc ngoài
Đây là mục tiêu trọng tâm của AFTA. AFTA sẽ tạo dựng một thị trờng thống
nhất trong ASEAN, cho phép thúc đẩy quá trình hợp lý hoá, chuyên môn hoá sản xuất
trong nội bộ khu vực, phát huy và khai thác các thế mạnh của nền kinh tế thành viên.
Thực hiện mục tiêu này nằm giải quyết ba vấn đề:
- Phân công lao động quốc tế trong toàn bộ nền kinh tế ASEAN nói chung,
trong từng ngành sản xuất nói riêng, thúc đẩy các công ty đa quốc gia đầu t trực tiếp
vào ASEAN. Thông qua AFTA, các nhà đầu t nớc ngoài đợc hởng các quy chế u đãi
đầu t ở tất cả các thành viên.
- Tăng đầu t trực tiếp vào các nớc ASEAN. Đó là nhờ kết quả mậu dịch giữa các
nớc thành viên tăng lên theo AFTA và do đó kích thích các công ty Nhật , Mỹ, EU và
NICs đầu t trực tiếp nhiều hơn nữa để giữ thị trờng này thay vì trớc đây họ thờng cung
ứng từ các cơ sở sản xuất ngoài ASEAN.
- Tăng sự lớn mạnh của chính thị trờng nội địa khu vực nhờ sự tăng lên của sức
mua thị trờng khu vực ASEAN.
Với định hớng phát triển ra ngoài khu vực trên cơ sở liên kết thị trờng bên trong
AFTA, ASEAN hoàn toàn có thể kỳ vọng ở khả năng đẩy mạnh thế thơng lợng cạnh
tranh thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Làm cho ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đang thay đổi,
đặc biệt là phát triển trong xu thế tự do hoá thơng mại toàn cầu.
9
AFTA là nấc thang quan trọng đầu tiên trên đờng tiến tới thực hiện sự hợp tác
toàn diện về kinh tế giữa các nớc ASEAN. Trớc những biến động của bối cảnh quốc tế,
đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực vừa qua, AFTA buộc phải
đẩy nhanh tiến độ thực hiện và có thể sẽ không dừng lại ở một khu vực mậu dịch hay
liên minh thuế quan, mà trong tơng lai nó sẽ có thể đợc tiếp tục phát triển thành một
liên minh tiền tệ, một liên minh kinh tế.
II. Vai trò và nội dung cải cách thuế quan trong
khuôn khổ AFTA.
1. Vai trò của cải cách thuế quan.
Để thấy đợc vai trò của cải cách thuế quan, trớc hết xét tác động của việc duy trì
hệ thống thuế quan có thuế xuất cao đối với các hoạt động kinh tế.
Thuế quan với thuế suất cao làm tăng đáng kể giá hàng nhập khẩu, tạo điều kiện
cho các nhà sản xuất nội địa tăng giá hàng của mình bằng mức giá sau thuế cua hàng
nhập khẩu cùng chủng loại. Giá hàng hoá trong nớc tăng, ngời tiêu dùng chịu thiệt.
Đồng thời, dẫn tới tình trạng sử dụng không hiệu quả các nguồn lực kinh tế, do các
ngành đợc bảo hộ sẽ có khả năng chi trả cao hơn lao động, đất và vốn so với các ngành
không đợc hay đợc bảo hộ ở mức thấp hơn. Điều này không chỉ làm tăng giá các
nguồn tài nguyên khan hiếm mà việc phân bổ chúng cũng không chính xác vì những
dòng tài nguyên này sẽ chảy sang các lĩnh vực kém hiệu quả hơn của nền kinh tế.
Nh vậy, thuế quan cao tác động tới toàn bộ nền kinh tế, tới giá các mặt hàng
chịu thuế và phổ biến hơn là giá các yếu tố sản xuất. Ngoài gia các nhà sản xuất cà
cung ứng hàng hoá, dịch vụ cho xuất khẩu sẽ phải chịu tác động mạnh bởi vì thuế cao
sẽ làm tăng chi phí tiêu thụ hàng hoá, trong khi đó giá xuất khẩu đựoc định bằng mức
cạnh tranh quốc tế, nh vậy lợi nhuận sẽ giảm. Nói cách khác, thuế quan cao có tác
động hạn chế xuất khẩu.
Để hạn chế tác động tiêu cực của chế độ bảo hộ bằng hàng rào thuế quan cao,
các quốc gia đã tiến hành cải cách thuế quan và áp dụng hệ thống thuế quan thấp và
đồng nhất. Đây là một hệ thống thuế mà khoảng cách giữa mức thuế suất cao nhất và
thấp nhất có xu hớng thu hẹp và thuế xuất trung bình giảm dần xuống tới mức hợp lý.
10
Cải cách thuế quan theo hớng này đã đợc áp dụng trong suốt những năm 80 tại Châu
Mỹ - La Tinh, Châu á, Châu Phi và gần đây là ở Đông Âu.
Vòng đàm phán Urugoay và cá thoả thuận thơng mại khu vực nh CEPT/AFTA
đã tạo thêm động lực cho quá trình cải cách này.
Cải cách thuế quan theo cơ chế thấp và đồng nhất đem lại nhiều lợi ích khách
nhau:
- Tăng cờng buôn bán và hợp tác kinh tế quốc tế.
- Khuyến khích các nớc tích cực tham gia vào phân công lao động quốc tế.
- Xoá bỏ chinh xác bảo hộ các ngành kinh tế kém hiệu quả.
- Ngoài ra thuế quan thấp còn hạn chế tình trạng nhập khẩu bất hợp pháp trốn
thuế. Thực vậy, nếu thuế suất cao, các thơng gia có thể trốn thuế bằng cách buôn lậu
hay những phơng thức bất hợp pháp khác nhau nh khai gian, khai giảm ( gian lận th-
ơng mại). Nếu thuế suất giảm, lợng hàng nhập khẩu hợp pháp có thể tăng vì mắc độ rủi
do cao trong buôn lậu lớn hơn việc nhập khẩu hợp pháp. Đồng thời qua giảm thuế,
chúng ta có thể hạn chế các hoạt động thơng mại bất hơp pháp mà không cần thực hiện
qua các hoạt động kiểm tra, giám sát hàng hoá, chứng từ và các quy định hành chính
khác; do đó giảm bớt đợc tình trạng nhũng nhiễu, gây lãng phí thời gian và tiền của
các thơng gia cũng nh các nhà chức trách.
Tóm lại, việc cắt giảm thuế quan hiện nay trong nền kinh tế thế giới có vai trò
hết sức quan trọng, góp phần khắc phục những hạn chế của hàng rào thuế quan cao và
tăng cờng các tác động tích cực của hệ thống thế quan thấp và đông nhất.
2. Nội dung cải cách thuế quan trong quá trình thực hiện AFTA.
Cơ chế chủ yếu thực hiện AFTA là tham gia Hiệp định u đãi thuế quan có hiệu
lực chung (CEPT). Phần này sẽ tập trung nghiên cứu nội dung cải cách thuế quan theo
CEPT.
2.1. Những quy định chung của CEPT về cải cách thuế quan
Mục tiêu của Hiệp định CEPT ban đầu (CEPT - 1992) chỉ là giảm toàn bộ thuế
suất nộ bộ thơng mại ASEAN xuống mức từ 0 - 5 % vào tháng 1 năm 2008.
Các sản phẩm đợc chia thành 3 nhóm: giảm nhanh, giảm thông thờng và nhóm
loại trừ tạm thời. Trong số 44095 mặt hàng đợc trình cho ban th ký ASEAN vào tháng
12 năm 1993, có 14855 mặt hàng thuộc nhóm giảm nhanh, 25918 mặt hàng thuộc
11
nhóm giảm thông thờng và 3322 mặt hàng thuộc nhóm còn lại. Các sản phẩm nông
nghiệp cha chế biến không đợc đa vào Hiệp định CEPT -1992.
Tháng 12 năm 1995, Hiệp định CEPT đã có những sửa đổi lớn bao gồm:
- Xây dựng lại danh mục các hàng hoá loại trừ tạm thời.
- Mở rộng phạm vi hàng hoá tham gia CEPT, gồm cả các sản phẩm nông nghiệp
cha chế biến.
- Thành lập nhóm các mặt hàng nông sản cha chế biến nhạy cảm. Các mặt hàng
này đợc áp dụng một cơ chế tự do hoá riêng.
- Rút ngắn thời gian hoàn thành AFTA trớc 5 năm, tức là kết thúc vào năm
2003.
Đến tháng 12 năm 1995, có khoảng 89% toàn bộ các sản phẩm xuất nhập khẩu
thuộc Danh mục giảm thuế nhanh và giảm thông thờng 7,1% thuộc Danh mục loại trừ
tạm thời và 2,9% là các sản phẩm nông nghệp cha chế biến ( gồm cả các loại sản phẩm
nhạy cảm). 1% còn lại thuộc Danh mục loại trừ hoàn toàn, không tham gia CEPT. Dự
tính đến năm 2003 sẽ có 99% các sản phẩm xuất nhập khẩu đợc đa vào CEPT.
Nh vậy, những quy định về cải cách thuế quan trong Hiệp định CEPT sửa đổi sẽ
đợc áp dụng đối với mọi sản phẩm công nghiệp chế biến, kể cả các hàng hoá cơ bản
và các sản phẩm nông nghiệp đã qua chế biến. Tuy nhiên, trong khung hiệp định đó,
CEPT đợc nhấn mạnh cho các mặt hàng công nghiệp chế biến. Các sản phẩm công
nghiệp chế biến là đối tợng chủ yếu đợc thụ hởng các u đãi của chơng trình giảm thuế
quan.
Nội dung cắt giảm thuế quan cho các sản phẩm thuộc từng Danh mục của
CEPT đợc quy định nh sau:
- Danh mục các sản phẩm giảm thuế ngay: Danh mục này bao gồm những sản
phẩm đợc cắt giảm thuế quan với lịch trình giảm nhanh và giảm bình thờng.
Lịch trình giảm thuế nhanh (còn gọi là kế hoạch giảm thuế tăng tốc) sẽ đợc áp
dụng cho 15 nhóm mặt hàng công nghiệp chế biến của ASEAN nh: xi măng, hoá chất,
phân bón, chất dẻo hàng điện tử, hàng dệt, dầu thực vật, sản phẩm da, sản phẩm cao
su, giấy, đồ gốm và thuỷ tinh, đồ dùng bằng gỗ và song mây, dợc phẩm khoảng 3200
mặt hàng, chiếm tới 34% tổng số Danh mục giảm thuế của toàn ASEAN.
12
Lịch trình giảm thuế nhanh đợc phân định thành hai nấc: một là, các sản phẩm
có thuế suất trên 20% sẽ đợc giảm xuống còn 0 - 5% vào 1/1/2000 và các sản phẩm có
thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% sẽ đợc giảm xuống còn 0 - 5% và 1/1/1998.
Lịch trình giảm thuế bình thờng: sẽ đợc áp dụng đối với các sản phẩm công
nghiệp còn lại. Đối với những sản phẩm có mức thuế hiện hành trên 20% sẽ đợc thực
hiện theo hai bớc.Bớc một, thuế từ mức hiện hành giảm xuống mức 20% vào năm
1998. Bớc hai, giảm từ mức thuế 20% xuống mức cuối cùng 0 - 5% kết thúc vào ngày
1/1/2003. Đối với mức thuế hiện hành 20% hoặc thấp hơn sẽ đợc giảm xuống mức
cuối cùng 0 - 5% trong vòng 7 năm, tức là kết thúc vào năm 2000. Các danh mục giảm
thuế theo kênh thông thờng hiện chiếm tỷ lệ là 55%, lớn nhất trong tổng số các Danh
mục hàng hoá tham gia CEPT.
Nh vậy, Danh mục giảm thuế ngay chiếm một tỷ lệ lớn, khoảng 89% tổng số
Danh mục giảm thuế của Chơng trình thực hiện CEPT. Do đó, các lịch trình giảm thuế
nhanh và giảm thuế bình thờng nếu đợc thực hện, về căn bản, gần nh đã hoàn thành tỷ
suất tự do hoá thơng mại nội bộ ASEAN.
Điều đáng lu ý ở đây là sau một số năm thực hiện CEPT, các nớc thành viên
ASEAN đã đề xuất về một lịch trình giảm thuế linh hoạt, nghĩa là không nhất thiết
phải tuân thủ theo hai kênh đồng tuyến với các quy trình rạch ròi cho các thuế suất cần
cắt giảm qua từng thời kỳ. Mà tuỳ theo đặc điểm cơ cấu thuế của từng nớc, có thể xây
dựng lịch trình cắt giảm thích hợp, miễn sao giảm nhanh thuế suất còn 0 - 5% trớc
năm 2003, sớm hơn càng tốt.
Năm 1999, Hội đồng AFTA đã chấp nhận đề xuất đó nh một sáng kiến nhằm
đáp ứng các yêu cầu về việc tạo dựng một khu vực tự do hoá thơng mại ASEAN trớc
thời hạn. Ngày 8/3/1999 Hội đồng AFTA quyết định các nớc ASEAN cũ sẽ hoàn
thành cắt giảm thuế quan xuống mức cơ sở 0% vào 2001. Tính tới tháng 4/1999, 73%
tổng số các mặt hàng chịu thuế của ASEAN đã đựoc giảm thuế suát xuống còn từ 0 -
5%. Tính trung bình thuế suất ASEAN là 4,5% và năm 2000 giảm xuống mức 3,7%.
- Danh mục các sản phẩm tạm thời cha tham gia giảm thuế (danh mục loại trừ
tạm thời). Xuất phát từ hoàn cảnh của từng quốc gia thành viên và để tạo điều kiện
thuận lợi cho các nớc naỳ có thời gian ổn định trong một số lĩnh vực cụ thể nh : Tiếp
tục các chơng trình đầu t đã đợc đa ra trớc khi tham gia kế hoạch CEPT hoặc có thời
13
gian để hỗ trợ cho sự ổn dịnh thơng mại, hoặc để chuyển hớng sản xuất đối với một số
sản phẩm tơng đối trọng yếu. Hiệp định CEPT đã đợc phép các nớc ASEAN đợc đa ra
một số sản phẩm tạm thời cha thực hiện tiến trình giảm thuế theo kế hoạch CEPT. Các
sản phẩm trong Danh mục này sẽ không đợc hởng u đãi. Sau 5 năm, hàng hoá loại trừ
tạm thời phải đợc chuyển sang Danh mục giảm thuế theo hai kênh đồng tuyến đã quy
định.
Do đó, kể từ 1/1/1996 đến 1/1/2000, danh mục loại trừ tạm thời sẽ phải chuyển
sang Danh mục giảm thuế theo CEPT bình quân 20% mỗi năm ( Danh mục này chỉ
chiếm khoảng 7,1% tổng số các danh mục tham gia giảm thuế.
- Danh mục sản phẩm nông nghiệp cha qua chế biển.
Các sản phẩm nông nghiệp cha qua chế biến đợc phân định thành 3 nhóm:
Nhóm giảm thuế, nhóm loại trừ hoàn toàn và một nhóm đặc biệt khác là nhóm các sản
phẩm nông sản cha chế biến nhạy cảm.
Chơng trình cắt giảm thuế của từng nhóm đợc quy định nh sau:
- Sản phẩm nông sản cha chế biến trong Danh mục cắt giảm thuế ngay đợc đa
vào chơng trình cắt giảm thuế nhanh hoặc chơng trình cắt giảm bình thờng vào
1/1/1996 và sẽ đợc giảm thuế xuống còn 0 - 5% vào 1/1/2003.
- Các sản phẩm trong Danh mục loại trừ tạm thời của hàng nông sản cha chế
biến sẽ đợc chuyển sang Danh mục cắt giảm thuế trong vòng 5 năm, từ 1/1/1998 đến
1/1/2003, mỗi năm chuyển 20%.
- Các sản phẩm nông sản cha chế biến nhạy cảm đợc phân định vào hai Danh
mục tuỳ theo mức độ nhạy cảm là Danh mục các sản phẩm nông sản cha chế biến
nhạy cảm và Danh mục các sản phẩm nông sản cha chế cảm cao. đến nay, theo đề
xuất của các quốc gia thành viên, những mặt hàng thuộc Danh mục các sản phẩm
nông sản cha chế biến nhạy cảm sẽ bắt đầu thực hiện cắt giảm thuế xuống còn 0 - 5%
từ 1/1/2001 và kết thúc lịch trình giảm thuế vào ngày 1/1/2010. Trong khi đó, các sản
phẩm nông nghiệp cha chế biến nhạy cảm cao sẽ bắt đầu từ 1/1/2003 và kết thúc vào
2010.
- Danh mục loại trừ hoàn toàn. Theo kế hoạch CEPT, tất cả các sản phẩm công
nghiệp chế tạo và các sản phẩm nông nghiệp chế biến đáp ứng yêu cầu nội dung của
sản phẩm có ít nhất 40% xuất xứ từ bất kỳ nớc thành viên ASEAN nào đều nằm trong
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét