Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may mặc xuất khẩu của Công ty Cổ phần May Thăng Long trên thị trường Mỹ

tạo được uy tín với khách hàng.
Như vậy, cạnh tranh hàng hoá là quy luật khách quan của nền sản xuất
hàng hoá, nền sản xuất càng phát triển, hàng hoá bán ra càng nhiều, số lượng
người cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt, quyết liệt kết quả của
cạnh tranh sẽ loại dần những hàng hoá kém chất lượng không được khách
hàng chấp nhận và tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của những hàng
hoá có chất lượng tốt. Có thể nói rằng cạnh tranh giữa những người bán quyết
liệt sẽ có lợi hơn cho khách hàng, được sử dụng hàng hóa tốt với giá rẻ, được
nhận những dịch vụ tốt trước, trong và sau bán.
Trong phạm vi của đề tài sẽ xem xét tới cạnh tranh hàng hóa chi tiết
hơn.
*Tiền đề cơ bản của cạnh tranh
Cạnh tranh cũng như các quy luật hiện tượng kinh tế, tự nhiên, xã hội
khác chỉ xuất hiện, tồn tại và phát triển khi có điều kiện như: nhu cầu, môi
trường cạnh tranh và vận hành tốt khi có môi trường cạnh tranh thuận lợi và
bình đẳng.
Nhu cầu lợi nhuận là động lực nảy sinh cạnh tranh-mục đích cuối cùng
của các bên tham gia cạnh tranh là nhằm thoả mãn tối đa lợi ích kinh tế là lợi
nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Trong hầu hết trường
hợp, cạnh tranh sẽ không xuất hiện khi lợi nhuận không phải là mục đích cuối
cùng. Cạnh tranh được sinh ra từ nhu cầu tối đa hoá lợi nhuận, thoả mãn lợi
ích kinh tế của con người. Tuy vậy, mặc dù động lực cạnh tranh xuất hiện,
song cạnh tranh chỉ vận hành khi có môi trường cạnh tranh, môi trường cạnh
tranh được hình thành trong nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường tạo
môi trường cho cạnh tranh vận hành, cạnh tranh bị hạn chế trong nền kinh tế
kế hoạch tập trung bao cấp.
Nền kinh tế thị trường với sự tồn tại đa hình thức sở hữu, thành phần
kinh tế là tiền đề cơ bản cho cạnh tranh xuất hiện, tồn tại và phát triển. Tuy
nhiên, cơ chế cạnh tranh trong những điều kiện như vậy trong nhiều trường
hợp chưa thực sự vận hành hiệu quả, thậm chí có thể bị tắc nghẽn do những
khuyết tật của chính thị trường, đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước. Sự can
thiệp hợp lý của nhà nước nhằm đảm bảo cơ chế cạnh tranh vận hành một
cách hiệu quả. Khi cơ chế cạnh tranh không thể vận hành một cách suôn sẻ do
thất bại của thị trường thì sự điều tiết hợp lý của nhà nước trong chính sách để
cơ chế cạnh tranh vận hành hiệu quả là điều cần thiết.Nhà nước phải thực
hiện, xây dựng chính sách cạnh tranh hiệu quả, môi trường cạnh tranh thông
thoáng, bình đẳng, lành mạnh nhằm tránh thất bại của thị trường gây tổn hại
đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Nhu cầu, động lực cạnh tranh là lợi nhuận. Song chỉ có nền kinh tế thị
trường là tiền đề cơ bản, tạo điều kiện cho cạnh tranh có thể vận hành được.
Việc can thiệp của nhà nước nhằm điều tiết cạnh tranh, giúp cơ chế cạnh tranh
được vận hành thông suốt trong trường hợp thất bại của thị trường là cần thiết
trong nền kinh tế thị trường hiện đại.
1.1.2 Vai trò, phân loại cạnh tranh hàng hóa
1.1.2.1 Vai trò của cạnh tranh hàng hóa
Cạnh tranh hàng hóa có những vai trò sau:
Cạnh tranh hàng hoá là động lực cho sự phát triển kinh tế. Một mặt
nó, giúp loại bỏ những doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, mặt khác nó
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả có cơ hội phát triển.
Cạnh tranh hàng hoá rút ngắn khoảng cách từ sản xuất tới tiêu dùng,
do cạnh tranh ngày càng quyết định các doanh nghiệp phải tìm hiểu nghiên
cứu nhu cầu để có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách nhanh nhất
và hiệu quả nhất. Doanh nghiệp sẽ tìm mọi cách để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu
của khách hàng.
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải cắt giảm chi phí sản xuất sản
phẩm, tăng năng suất nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng, cũng
như cung cấp cho khách hàng những sản phẩm tốt với giá rẻ hơn đối thủ cạnh
tranh. Để đạt được mục tiêu, doanh nghiệp buộc phải sử dụng hợp lý nguyên
liệu đầu vào, tránh lãng phí. Đồng thời, đổi mới công nghệ sản xuất, mua sắm
dây chuyền công nghệ hiện đại nhằm tăng năng suất chất lượng sản phẩm.
Như vậy, cạnh tranh hàng hoá buộc các doanh nghiệp phải sử dụng tài nguyên
có hiệu quả hơn và phải áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất.
1.1.2.2 Phân loại cạnh tranh
Tùy vào giác độ nghiên cứu, có thể phân loại cạnh tranh theo các
tiêu thức chủ yếu sau:
* Xét theo chủ thể cạnh tranh:
Xét theo chủ thể cạnh tranh sẽ có các loại hình:
Thứ nhất: Cạnh tranh giữa người bán với người mua: Là cuộc cạnh
tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt. Người bán luôn mong muốn bán
hàng hoá của mình với giá cao nhất, còn người mua lại muốn mua ở mức giá
thấp nhất.
Thứ hai: Cạnh tranh giữa những người mua: Là cuộc cạnh tranh trên
cơ sở quy luật cung cầu. Khi cung một loại hàng hoá dịch vụ nào đó nhỏ hơn
mức cầu thì cuộc cạnh tranh sẽ diễn ra quyết liệt hơn. Gía cả hàng hoá và dịch
vụ đó sẽ tăng nhanh. Kết quả cuối cùng là người bán thu được lợi nhuận cao,
tuy nhiên người mua lại phải chịu thiệt thòi.
Thứ ba: Cạnh tranh giữa những người bán: Là cuộc cạnh tranh gay go
và quyết liệt nhất. Cuộc cạnh tranh này thường diễn ra trong trường hợp cung
lớn hơn cầu. Thực chất cạnh tranh giữa những người bán là sự giành giật các
lợi thế trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ nhằm thu được lợi nhuận
lớn nhất.
* Xét theo sự khác biệt về sở hữu tư liệu sản xuất của chủ thể kinh tế:
Các thành phần kinh tế đều nằm trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, có
mối liên hệ thống nhất và mâu thuẫn với nhau. Chính từ sự thống nhất và mâu
thuẫn này làm nảy sinh cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế với nhau.
* Xét theo tính chất của phương thức cạnh tranh:
Để cạnh tranh thành công không ít các chủ thể kinh tế đã dùng các biện
pháp cũng như thủ đoạn để đạt được mục tiêu của mình. Họ dùng các thủ
đoạn phi pháp nhằm tiêu diệt đối phương chứ không phải bằng nỗ lực thực sự
của chính mình gọi là cạnh tranh không lành mạnh(Healthy Competion).
Cạnh tranh mà sử dụng các thủ đoạn phi pháp nhằm tiêu diệt đối thủ cạnh
tranh gọi là cạnh tranh không lành mạnh( Unfair Competion)
* Xét theo hình thái cạnh tranh:
Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition) hay gọi là cạnh tranh
thuần tuý (Pure Competition) là tình trạng cạnh tranh mà giá cả của một loại
hàng hoá là không đổi trong toàn bộ các nơi của thị trường do có nhiều người
bán và người mua, họ có đủ thông tin về các điều kiện của thị trường. Thực
tế, rất ít tồn tại hình thái cạnh tranh này.
Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition) là hình thái
chiếm ưu thế trong các ngành sản xuất kinh doanh. Ở đó, các nhà sản xuất bán
hàng đủ mạnh để chi phối giá cả các sản phẩm của mình trên thị trường hoặc
từng nơi, từng khu vực cụ thể.
Trong cạnh tranh không hoàn hảo lại phân ra ba loại là:
Độc quyền
Độc quyền nhóm
Cạnh tranh mang tính chất độc quyền.
Ngoài các loại hình cạnh tranh đã nêu trên, người ta còn xét theo một số
tiêu chí khác nữa như phạm vi, lợi thế tài nguyên, nhân lực, đặc điểm tập
quán sản xuất, tiêu dùng, văn hoá địa lý ở từng khu vực, từng quốc gia khác
nhau.
1.1.3 Khái niệm về năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh
sản phẩm may mặc của doanh nghiệp
Khi nói đến khái niệm sức cạnh tranh (năng lực cạnh tranh) người ta rất
khó có thể định nghĩa chung chung, thông thường định nghĩa về năng lực
cạnh tranh thường sẽ định nghĩa cụ thể hơn về phạm vi cũng như cấp độ.
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và
Phát triển kinh tế (OECD) đã lựa chọn một định nghĩa cố gắng kết hợp
cho cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: “Sức cạnh tranh là khả
năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc
làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.” Định nghĩa này
đã phản ánh được khái niệm cạnh tranh quốc gia trong mối liên hệ gắn kết với
hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập và
mức sống nhân dân.
Năng lực cạnh tranh (còn gọi là sức cạnh tranh; Anh: Competitive
Power) khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh
trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của
đồng nghiệp (Từ điển thuật ngữ kinh tế học, 2001, NXB Từ điển Bách khoa
Hà Nội).
Theo định nghĩa này, có thể hiểu sức cạnh tranh, năng lực cạnh tranh
khả năng cạnh tranh, tính cạnh tranh đều có nội dung tương tự nhau và hiểu
tên của chúng một cách nhất quán trong đề tài này là "năng lực cạnh tranh".
Các cấp độ của cạnh tranh:
- Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia
- Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá
Năng lực cạnh tranh ở bốn cấp độ phân biệt trên đây có mối tương quan
mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau.
Trong phạm vi đề tài sẽ xem xét chủ yếu tới năng lực cạnh tranh của
sản phẩm mà cụ thể là năng lực cạnh tranh của sản phẩm may mặc.
Khái niệm năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa là gì?
Năng lực cạnh tranh của một sản phẩm là sự thể hiện thông qua các lợi
thế so sánh đối với sản phẩm cùng loại.
Lợi thế so sánh của một sản phẩm bao hàm các yếu tố bên trong và bên
ngoài tạo nên, như năng lực sản xuất, chi phí sản xuất , chất lượng sản phẩm,
dung lượng thị trường của sản phẩm Khi so sánh cùng một loại sản phẩm
của hai doanh nghiệp sản xuất khác nhau A, B, và nói rằng sản phẩm A có
năng lực cạnh tranh hơn sản phẩm của B là nói đến những lợi thế vượt trội
của sản phẩm do A sản xuất, như doanh nghiệp A có năng lực sản xuất lớn
hơn, có chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm thấp hơn, dung lượng thị
trường chiếm lĩnh được lớn hơn…
Còn nếu so sánh với sản phẩm cùng loại nhập khẩu thì yếu tố lợi thế
được thể hiện cơ bản qua giá bán sản phẩm, giá trị sử dụng của sản phẩm và
một phần không nhỏ là tâm lý tiêu dùng.
Có thể thấy rằng, khái niệm năng lực cạnh tranh là một khái niệm động,
được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vi mô
và vĩ mô. Một sản phẩm có thể năm nay được đánh giá là có năng lực cạnh
tranh, nhưng năm sau, hoặc năm sau nữa lại không còn khả năng cạnh tranh
nếu không giữ được các yếu tố lợi thế. Nhìn chung, các sản phẩm nhóm may
mặc, đặc biệt là hàng may sẵn, hàng tơ tằm và vải dệt kim hiện nay đang có
năng lực cạnh tranh cao và trong giai đoạn 2006 - 2010, cơ bản vẫn giữ được
mức độ cạnh tranh.
Theo http://www.moi.gov.vn
*So sánh năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa với năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá được định đoạt bởi năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Sẽ không có năng lực cạnh tranh của sản
phẩm hàng hoá cao khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh
doanh sản phẩm đó thấp. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá và năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp là hai phạm trù khác nhau nhung có quan hệ
hữu cơ với nhau. Năng lực cạnh tranh của hàng hoá có được do năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp tạo ra. Nhưng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
không chỉ do năng lực cạnh tranh của hàng hoá, mà còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố khác nữa. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá lại có
ảnh hưởng lớn tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng một
doanh nghiệp tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn
dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các hàng hoá cũng như
năng lực của doanh nghiệp để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm
nảy sinh các thị trường mới.
Trong quá trình kinh doanh có nhiều yếu tố tác động tới năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp như các yếu tố do doanh nghiệp chi phối đó là chiến
lược cạnh tranh, đào tạo lao động và công tác Maketing… Ngoài ra, còn có
các yếu tố thuộc môi trường ngoài doanh nghiệp như đối thủ cạnh tranh,
chính sách đầu tư, chính sách thương mại của đối thủ…
Năng lực cạnh tranh của hàng hoá được nhận biết qua lợi thế cạnh tranh
của hàng hoá đó với các hàng hoá khác cùng loại. Lợi thế của hàng hoá bao
gồm nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến. Đó là giá cả, chất
lượng, hình thức, chủng loại hàng hoá… Qua các khái niệm trên, có thể thấy
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sức cạnh tranh của hàng hoá có mối
quan hệ mật thiết, phụ thuộc vào nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển. Một
doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao phải có hàng hoá có năng lực cạnh
tranh cao. Như vậy,sức cạnh tranh của hàng hoá là cốt lõi năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp.
1.1.4 Đặc điểm về sản phẩm may mặc.
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu ăn mặc của con người không chỉ
dừng ở “ mặc ấm” mà chuyển lên mức cao hơn là “mặc đẹp”, do vậy, những
sản phẩm may mặc được bán trên thị trường không chỉ đáp ứng nhu cầu
“mặc” của người tiêu dùng mà phải đáp ứng cả nhu cầu “mặc đẹp”. Như vậy,
đối với sản phẩm may mặc trong xã hội phát triển ngày nay thì vấn đề quan
tâm đó chính là thời trang. Sản phẩm phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người
tiêu dùng thì sản phẩm đó sẽ bán rất chạy và ngược lại. Sản phẩm may mặc có
vòng đời rất ngắn, nó phụ thuộc vào nhu cầu sở thích của người tiêu dùng và
khi nó không còn đáp ứng nhu cầu thị hiếu tiêu dùng nữa, vòng đời của sản
phẩm sẽ kết thúc. Mà sở thích về thời trang của con người nhanh thay đổi, có
thể thay đổi theo mùa, theo tháng và lâu hơn là theo năm. Một đặc điểm nữa
của sản phẩm may mặc là tính mùa vụ với những mùa khác nhau thì có những
mẫu quần áo phù hợp đặc trưng theo mùa. Đòi hỏi các nhà thiết kế cần phải
có sự sáng tạo, nghiên cứu nhu cầu trước khi đưa ra thị trường những sản
phẩm mới.

1.2 Chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm may mặc.
*Chỉ tiêu mang tính định tính
1.2.1 Chất lượng sản phẩm.
Chất lượng của sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh
tranh của sản phẩm và cũng là yếu tố quan trọng đầu tiên được sử dụng để
đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Chất lượng sản phẩm chịu tác
động của nhiều yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, trình độ tay
nghề của người lao động.
Chất lượng sản phẩm được nâng cao dẫn tới tăng tốc độ tiêu thụ tăng,
tăng khối lượng hàng hoá bán ra và kéo dài chu kỳ sống của hàng hoá, từ đó
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Khi hàng hoá có chất lượng cao dẫn tới tăng
uy tín của doanh nghiệp từ đó mở rộng thị phần doanh nghiệp góp phần tăng
sức cạnh tranh của hàng hoá.
Vì vậy, chất lượng hàng hoá là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với một
doanh nghiệp bởi vì, chất lượng hàng hoá thấp đồng nghĩa với việc giảm uy
tín, mất khách hàng và nhanh chóng phá sản.
Để tăng cường khả năng cạnh tranh và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm trong
điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại cạnh tranh gay gắt cần hiểu rõ và
đúng đắn hơn về sản phẩm. Sản phẩm là sự thỏa mãn nhu cầu nào đó của
khách hàng, một sản phẩm được xác định theo cách nhìn của nhà doanh
nghiệp chưa hẳn đã là một sản phẩm mà khách hàng mong muốn. Một sản
phẩm tốt theo khách hàng là một sản phẩm có chất lượng “vừa đủ”. Khi đưa
một sản phẩm nào đó ra thị trường doanh nghiệp cần nghiên cứu nhu cầu của
khách hàng, để đưa ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng
mà doanh nghiệp muốn nhắm tới. Bán cái thị trường cần chứ không phải bán
cái doanh nghiệp có. Sản xuất một sản phẩm có chất lượng tốt phải theo đánh
giá của khách hàng
1.2.2 Mức độ hấp dẫn của sản phẩm là kiểu dáng, màu sắc, bao bì nhãn
hiệu tính độc đáo tới khách hàng.
Một sản phẩm chỉ có chất lượng tốt chưa phải là một sản phẩm hoàn
thiện, nó sẽ chỉ đáp ứng, thỏa mãn một nhu cầu của khách hàng mà thôi, trong
đó, nhu cầu của khách hàng ngày càng phong phú đa dạng theo sự phát triển
của xã hội. Khi khách hàng mua sản phẩm ngoài mục đích giá trị sử dụng của
sản phẩm, khách hàng còn có nhu cầu thể hiện địa vị khi sử dụng sản phẩm.
Mẫu mã sản phẩm cũng như kiểu dáng giúp khách hàng thỏa mãn nhu cầu
này, một chiếc xe sang trọng, một sản phẩm có bao bì trang trí bắt mắt sang
trọng sẽ được khách hàng lựa chọn thay vì phải lựa chọn sản phẩm không
được đẹp mặc dù chất lượng có thể hơn hoặc ngang bằng. Mức độ hấp dẫn tạo
ra sức cạnh tranh của hàng hoá vì nó mang lại những đặc thù riêng biệt của
hàng hoá này so với hàng hoá khác. Nhu cầu con người càng đa dạng, hàng
hoá phải đáp ứng được tính đa dạng trong nhu cầu đó thể hiện những giá trị,
yếu tố trong cuộc sống của khách hàng. Đặc biệt, với sản phẩm may mặc tính
thời trang nhu cầu về kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm rất cao. Chính sự khác biệt
của hàng hoá này so với hàng hoá khác đã đem lại những giá trị khác nhau
cho những hàng hoá khác nhau. Sự khác biệt này tạo ra sức cạnh tranh rất lớn
cho hàng hoá. Vì vậy, bên cạnh công tác nâng cao chất lượng sản phẩm,
doanh nghiệp cần chú ý tới kiểu dáng, mẫu mã hình thức bên ngoài của sản
phẩm tạo nên tính độc đáo hấp dẫn của sản phẩm, sự khác biệt hóa theo
hướng tích cực nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh so với sản phẩm của đối
thủ.
1.2.3 Uy tín thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường.
Uy tín thương hiệu được hình thành dựa trên chất lượng, các dịch vụ
sau bán hàng, thời gian giao hàng,… Một thương hiệu có uy tín với khách
hàng thì đồng nghĩa với việc có lợi thế trong cạnh tranh. Khách hàng khi đó

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét