Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ BÁN SÁCH TRÊN MẠNG

Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng
+ Thanh toán bằng gửi thư bảo đảm (chuyển phát nhanh): Khách hàng có thể gửi
tiền bằng hình thức bảo đảm thông qua Bưu điện tại gần nơi khách hàng sinh sống. Ở
Việt Nam hình thức này cũng phổ biến, nó rất thuận lợi, nhanh chóng vừa chính xác
vừa an toàn.
+ Thanh toán qua chuyển khoản, sử dụng máy ATM: Đây cũng là hình thức thanh
toán đã và đang rất phát triển ở nước ta hiện nay.
+ Thanh toán bằng thẻ tín dụng (Credit card): Hiện nay do hệ thống Ngân hàng
của Việt Nam chưa thực hiện thanh toán và giao dịch trên mạng, nên phương thức
thanh toán này hiện nay nhìn chung chưa khả thi. Có thể trong tương lai khi hệ thống
liên Ngân hàng thông suốt thì loạị hình thanh toán này sẽ rất thịnh hành.
Như vậy, trong hình thức thanh toán sẽ có 4 tuỳ chọn: Tiền mặt, chuyển tiền qua
bưu điện, chuyển khoản Ngân hàng, và thẻ tín dụng.
Ngoài các hình thức thanh toán trên, chúng ta còn có một số các hình thức thanh
toán khác như: thanh toán qua thẻ trả trước Golgift, Golmart, Western Union, Visa
card, Master card.
1.1.5. Các yêu cầu của thương mại điện tử
Thương mại điện tử bao trùm một phạm vi rộng lớn các hoạt động kinh tế và xã
hội. Hạ tầng cơ sở của nó là cả một tổng hòa phức hợp. Một khi chấp nhận và ứng
dụng thương mại điện tử thì toàn bộ hình thái hoạt động của một nước sẽ thay đổi.
Song song với những lợi ích có thể mang lại, thương mại điện tử đã và đang đặt
ra hàng loạt vấn đề cần phải giải quyết:
• Hạ tầng cơ sở công nghệ.
• Hạ tầng cơ sở nhân lực.
• Bảo mật, an toàn.
• Bảo vệ sở hữu trí tuệ.
• Bảo vệ người tiêu dùng.
• Tác động văn hóa xã hội của Internet.
• Hạ tầng cơ sở kinh tế và pháp lý.
5
SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc
5
Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng
1.1.6. Lợi ích của thương mại điện tử
Thương mại điện tử đã đưa lại những lợi ích tiềm tàng thể hiện ở một số mặt sau:
• Giúp người tham gia thu thập được thông tin phong phú.
• Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị.
• Giảm chi phí giao dịch.
• Giúp thiết lập và củng cố quan hệ quốc tế.
• Tạo điều kiện sớm tiếp cận “kinh tế số hóa”.
1.2. Internet
1.2.1. Định nghĩa Internet
Internet là một mạng máy tính liên kết nhiều mạng máy tính khác nhau trên phạm
vi toàn thế giới, để các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, công ty và cá nhân trao đổi
cung cấp thông tin trên hầu hết các lĩnh vực
1.2.2. Một số dịch vụ trên Internet
1.2.2.1. Thư điện tử
Dịch vụ E-mail có thể dùng để trao đổi thông tin giữa các cá nhân với nhau, các
cá nhân với tổ chức và giữa các tổ chức với nhau. Email là một dịch vụ “lưu trữ -
chuyển tiếp”, tức là không cần phải có sự kết nối tức thời giữa máy gửi và máy nhận
thư. Nội dung thông tin gửi đi dùng trong thư điện tử không chỉ có văn bản (text) mà
còn có thể ghép thêm các văn bản đã được định dạng, đồ họa, âm thanh Các dạng
thông tin này có thể hoà trộn, kết hợp với nhau thành một tài liệu phức tạp. Lợi ích
chính dịch vụ thư điện tử là thông tin gửi đi nhanh và rẻ.
1.2.2.2 WWW
Đây là khái niệm mà người dùng Internet quan tâm nhiều nhất hiện nay. Web là
một công cụ, hay đúng hơn là một dịch vụ của Internet, Web chứa thông tin bao gồm
văn bản, hình ảnh, âm thanh và thậm chí cả video được kết hợp với nhau Nhờ có
Web nên dù không phải là chuyên gia, mọi người có thể sử dụng Internet một cách dễ
dàng. Phần mềm sử dụng để xem Web gọi là trình duyệt (Browser). Một trong những
trình duyệt thông thường hiện nay là Navigator của Netcape, tiếp đó là Internet
Explorer của Microsoft.
6
SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc
6
Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng
Giới thiệu chung:World Wide Web (Web) là một dịch vụ hay còn gọi là một công
cụ trên Internet ra đời gần đây nhưng phát triển nhất hiện nay. Nó cung cấp một giao
diện vô cùng thân thiện với người dùng, dễ sử dụng và đơn giản để tìm kiếm thông
tin.
Thực chất Web không phải là một hệ thống cụ thể với tên gọi như trên mà là
một tập hợp các công cụ tiện ích và siêu giao diện (meta-interface) giúp cho người sử
dụng có thể tạo ra các “siêu văn bản” và cung cấp cho những người dùng khác trên
Internet.
1.2.2.3. Dịch vụ truyền tệp
Dịch vụ truyền tệp trên Internet được đặt tên theo giao thức mà nó sử dụng là
FPT (File Transfer Protocol). FPT cho phép sao chép, di chuyển các tệp từ một trạm
này sang một trạm khác, bất kể trạm đó ở đâu và sử dụng hệ điều hành gì, chỉ cần
chúng được kết nối với Internet và có cài đặt FPT.
Ngoài ra internet còn có một số dich vụ khác.
7
SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc
7
Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT HỆ THỐNG
2.1. Hiện trạng kinh doanh của nhà sách.
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu hiểu biết trên tất cả các lĩnh vực của
con người ngày càng được nâng cao. Đáp ứng yêu cầu này, ở Việt Nam nhiều
nhà sách xuất hiện, nhưng đa số các cửa hàng bán sách hiện nay đều tổ chức
kinh doanh theo phương thức truyền thống gồm các qui trình cơ bản sau:
• Nhập sách từ các nhà cung cấp: lập đơn đặt mua, gửi đơn đặt mua, nhận sách
từ nhà cung cấp, lưu sách vào kho, thanh toán, quảng cáo và trưng bày sách
mới
• Bán sách: trưng bày sách lên các giá sách theo loại.
• Qui trình đăng ký mua sách hay ký kết: được thực hiện khi có sự tiếp xúc trực
tiếp giữa hai bên hoặc qua điện thoại.
• Thanh toán theo phương thức truyền thống: bằng tiền mặt.
Chính phương thức kinh doanh này đã trực tiếp dẫn đến những khó
khăn sau:
• Cửa hàng phải tốn một diện tích rất lớn cho việc trưng bày sách.
• Khi khách hàng có nhu cầu mua sách thì thường họ phải mất rất nhiều thời
gian để tìm kiếm sách.
• Khi một cuốn sách mới được xuất bản thì thời gian mà nó sẽ đến được với bạn
đọc thường khá lâu và phải qua các phương tiện quảng cáo đắt tiền như ti vi,
báo chí…
• Rất khó để khách hàng biết được nội dung cơ bản của cuốn sách.
8
SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc
8
Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng
• Không khai thác được tiềm năng to lớn về nhu cầu mua sách của khách hàng
vì có không ít khách hàng muốn mua sách nhưng họ không có điều kiện đến
cửa hàng (ví như địa điểm, khoảng cách, những người tàn tật ).
• Việc quảng cáo sách của cửa hàng gặp nhiều khó khăn và tốn kém.
Những khó khăn trên đó trực tiếp làm giảm đáng kể doanh thu của cửa
hàng bán sách. Đặt ra cho các nhà sách cần phải có một cách tiếp cận, thu hút
mới có hiệu quả hơn. Giải pháp áp dụng công nghệ thông tin vào trong quản
lý, thương mại hiện nay là một xu thế tất yếu.
Một hệ thống quản lý bán sách trên mạng sẽ giúp cho cửa hàng giải quyết được
các khó khăn trên và điều quan trọng là đáp ứng được nhu cầu của đông đảo khách
hàng có nhu cầu tra cứu sách, đặt mua sách, và đây cũng chính là phương tiện quảng
cáo sách cho cửa hàng tốt nhất, rẻ nhất và hiệu quả nhất. Điều này cũng đồng nghĩa
với việc doanh thu của cửa hàng sẽ tăng lên. Với hệ thống này, nhà sách cũng tạo
được phương tiện để thu thập ý kiến từ phía khách hàng để giải quyết các sự cố cũng
như cải thiện khả năng phục vụ khách hàng.
2.2. Mục tiêu và yêu cầu khi xây dựng hệ thống.
2.2.1. Mục tiêu
Xây dựng một hệ thống quản lý bán sách trên mạng với mục tiêu chủ yếu là giới
thiệu sách của nhà sách với khách hàng. Khách hàng có thể xem, tìm kiếm các thông
tin về sách một cách trực quan và có thể đặt mua trực tiếp các loại sách trên mạng mà
không cần phải trực tiếp đến cửa hàng bán sách. Sách của nhà sách phải được phân
loại theo chuẩn phân loại giúp khách hàng có thể tra cứu một cách tiện lợi. Hệ thống
phải có hai URL riêng, một URL giành cho khách hàng và một URL cho nhân viên
của nhà sách cập nhật dữ liệu hệ thống: cập nhật sách, nhân viên, khách hàng, nhà
cung cấp, theo dõi đơn hàng và trả lời thư của khách hàng.
2.2.2. Yêu cầu
Hệ thống phải phải đáp ứng các yêu cầu sau:
• Khách hàng có thể xem, mua bất cứ cuốn sách nào trong kho.
• Đơn hàng, thư hỏi đáp kiến nghị của khách hàng phải được bảo mật.
9
SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc
9
Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng
• Thanh toán tiền khi giao nhận sách.
• Kiểm tra độ tin cậy của khách hàng phải thông qua những thông tin do khách
hàng đăng ký và dựa vào địa chỉ giao nhận sách, sau đó liên hệ qua Email
hoặc qua điện thoại.
• Hai URL giành cho khách hàng và nhân viên của nhà sách phải khác nhau.
2.3. Mô hình nghiệp vụ của hệ thống
Mô hình nghiệp vụ là một mô tả các chức năng nghiệp vụ của một hệ thống và
những mối quan hệ bên trong giữa các chức năng đó cũng như các mối quan hệ của
chúng với môi trường bên ngoài.
Một trong những thể hiện của mô hình nghiệp vụ là biểu đồ ngữ cảnh hệ thống và
biểu đồ phân rã chức năng.
Muốn xác định mô hình nghiệp vụ của hệ thống thì trước hết ta phải xác định
được các tác nhân của hệ thống:
Tác nhân của hệ thống có thể là một người, một nhóm người, một tổ chức hay
một hệ thống khác, và có tương tác với hệ thống về mặt thông tin (nhận hay gửi dữ
liệu).
Tác nhân của hệ thống bán sách qua mạng bao gồm:
• Khách hàng: Là những người trực tiếp sử dụng hệ thống để tra cứu sách và
mua sách qua mạng.
• Người quản lý: Là người quản lý hoạt động của hệ thống bán sách.
10
SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc
10
Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG
3.1. Phương pháp phân tích
Cùng với sự phát triển của CNTT, việc xây dựng hệ thống đã dần được chuẩn hoá
chuyển thành các hoạt động chuyên nghiệp, công nghiệp hoá hơn. Các phương pháp
luận phân tích thiết kế hệ thống dần được hình thành và hoàn thiện. Một cuộc cách
mạng, đỉnh cao của sự hoàn thiện là sự ra đời của phương pháp luận phân tích thiết
kế có cấu trúc kết hợp được kết quả của các cách tiếp cận hướng chức năng và hướng
dữ liệu, đưa việc xây dựng hệ thống thông tin lên một tầm cao hơn trở thành hoạt
động phương pháp luận.
Một phương pháp luận thông thường được đặc trưng bởi các yếu tố sau:
- Quy trình và phân đoạn các bước tiến hành;
- Các công cụ và cách thức mô hình hoá;
- Cách tiếp cận (hướng chức năng, hướng dữ liệu, trên xuống, dưới lên, )
Phương pháp phân tích có cấu trúc bao gồm các hoạt động: khảo sát, phân tích,
thiết kế, xây dựng và cài đặt chương trình. Đặc trưng mới của phương pháp này là
các hoạt động có thể hoạt động một cách song song. Mỗi hoạt động có thể cung cấp
những sửa đổi phù hợp cho một hoặc nhiều hệ thống trước đó. Trong phân tích có cấu
trúc cách tiếp cận cấp tiến cho phép các hoạt động khảo sát, phân tích, thiết kế, xây
dựng và cài đặt chương trình được tiến hành một cách song song. Chính ưu điểm này
đã làm cho phương pháp phân tích có cấu trúc ngày càng được phát triển hơn.
Có nhiều công cụ được sử dụng trong quá trình phân tích và thiết kế hệ thống
thông tin. Tuy nhiên với hệ thống ít phức tạp sẽ không đòi hỏi phải sử dụng hết tất cả
các công cụ này.
11
SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc
11
Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng
Ba công cụ quan trọng để mô hình hoá hệ thống thông tin theo phương pháp phân
tích thiết kế có cấu trúc là:
+ Mô hình chức năng;
+ Mô hình dữ liệu;
+ Mô hình luồng dữ liệu.
Trong đó mỗi mô hình thể hiện một cách nhìn ở góc độ khác nhau vào hệ thống.
3.2. Phân tích chức năng
3.2.1. Dữ liệu đầu vào và ra của hệ thống
- Dữ liệu đầu vào của hệ thống quản lý bán sách là các thông tin của nhân
viên, của khách hàng và thông tin về sách trong cửa hàng.
- Dữ liệu đầu ra là các thông tin được kết xuất từ dữ liệu đầu vào.
3.2.2. Biểu Đồ Phân Cấp Chức Năng
Sơ đồ phân cấp chức năng BPC cho ta thấy được các chức năng nghiệp vụ của hệ
thống. Nó thể hiện hệ thống từ khía cạnh chức năng, trả lời cho câu hỏi: Hệ thống
thực hiện những công việc gì?
Sau khi tìm hiểu và phân tích hệ thống quản lý bán sách qua mạng em đã đưa ra
được biểu đồ phân cấp chức năng như sau:

12
SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc
12
Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng
Quản trị hệ thống
HỆ THỐNG QUẢN LÝ BÁN SÁCH QUA MẠNG
Thiết đặt hệ thống
Quản lý & phân quyền người dùng
Cập nhật & phân loại sách
Cập nhật tin tức về sách
Cập nhật Tác giả
Cập nhật Nhà xuất bản
Tra cứu sách
Đăng ký khách hàng
Đặt mua sách
Góp ý & đề nghị
Phục vụ khách hàng
Quản trị dữ liệu hệ thống
Xem đơn đặt hàng, giao sách & trả lời thư của khách hàng
Quản lý quảng cáo
Xem tin sách
13
SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc
13
Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng
Hình 3.1: Biểu đồ phân cấp chức năng
3.2.3 Phân tích chi tiết các chức năng
3.2.3.1. Quản trị hệ thống
Quyền quản trị hệ thống: là quyền cao nhất dành cho người quản trị hệ thống.
Với quyền này người quản trị được phép thiết đặt cấu hình hệ thống và cấp quyền
cho các nhân viên khác.
Thiết đặt hệ thống: Là chức năng cho phép người quản trị hệ thống có thể thiết
đặt lại những cấu hình cơ bản của hệ thống như địa chỉ mail server, độ rộng của ảnh
hiển thị …
Quản lý và phân quyền người dùng: Số lượng sách của nhà sách ngày càng lớn,
khách hàng truy cập vào hệ thống ngày càng nhiều, do đó giao dịch thông qua hệ
thống ở mức độ cao. Để có thể đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, nhà sách cần
phải có đội ngũ nhân viên đông đảo. Để đội ngũ này hoạt động hiệu quả, người quản
trị hệ thống cần phải phân quyền cụ thể cho từng nhân viên. Người quản trị và các
nhân viên muốn giao tiếp với hệ thống phải đăng nhập thông qua tên đăng nhập và
mật khẩu.
Các nhân viên chỉ thực hiện được những chức năng nhất định ứng với quyền mà
người quản trị cấp và khi cần người quản trị có quyền huỷ các quyền này.
14
SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét