Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
khỏi Campuchia, vấn đề Campuchia đi dần vào giải pháp hoà bình. Trong tình hình
đó các nước ASEAN đã bắt đầu phát triển quan hệ song phương với Việt Nam và
hoan nghênh việc Việt Nam tham gia vào hợp tác khu vực . Tuy nhiên, có những
chính khách ASEAN hoài nghi về vai trò của Việt Nam ở khu vực bao gồm trên
nhiều mặt như: đổi mới kinh tế, về chính trị, đối nội và đối ngoại, cộng với những
điều kiện khác biệt về văn hoá, lịch sử, xã hội, đặc biệt là sự khác nhau về tư
tưởng, cho nên ASEAN chưa kết nạp một hội viên mới nào có bản chất chính trị -
xã hội khác ASEAN. Bên cạnh đó quan điểm của các nước ASEAN rất khác nhau
về việc Việt Nam gia nhập ASEAN. Malaixia và Inđônêxia ủng hộ việc Việt Nam
gia nhập ASEAN còn Xingapo và Thái Lan thì không nhất trí.
Những thiện chí, mong muốn tham gia ASEAN của Việt Nam ngày càng thể
hiện rõ nét. Tháng 1/ 1989, tại Hội Nghị các nhà báo Châu Á - Thái Bình Dương ở
Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch tuyên bố: “ Việt Nam sẵn
sàng gia nhập Hiệp hội các Đông Nam Á “ (
1
)
Giai đoạn từ 1990 - 1995:
Là thời kỳ tiếp cận và bình thường hoá quan hệ hai bên. Tại Đại hội Đảng
Cộng Sản Việt Nam lần thứ VII (1991) đã khẳng định chủ chương thực hiện đường
lối đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá, trong đó nhấn mạnh việc phát
triển quan hệ hữu nghị với các nước Đông Nam Á và Châu Á- Thái Bình Dương,
phấn đấu vì một Đông Nam Á hoà bình, hữu nghị và hợp tác. Đường lối đó đã
được cụ thể hoá trong Nghị quyết Hội Nghị Trung Ương lần thứ III, khoá VII
(tháng 6/1992) trong đó nói rõ: “ Việt Nam tham gia Hiệp ước Bali, tham gia các
diễn đàn đối thoại với ASEAN, tích cực nghiên cứu mở rộng quan hệ với ASEAN
trong tươnglai “. Sau khi Việt Nam tuyên bố muốn tham gia Hiệp ước Bali (tháng
2/1989), các nước ASEAN đều lên tiếng ủng hộ và ngày 28/1/1992, Hội Nghị cấp
cao ASEAN lần thứ IV tại Xingapo (1992) đã tuyên bố rõ điều đó. Vì vậy, tới ngày
1
. Phạm Đức Th nh. Vià ệt Nam – ASEAN. NXB KHXH, 1996, tr 37.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
22/7/1992 tại Hôi Nghị lần thứ 25 Bộ trưởng Ngoại Giao các nước ASEAN, Việt
Nam chính thức tham gia Hiệp ước Bali và trở thành quan sát viên của ASEAN.
Việc Việt Nam trở thành quan sát viên của ASEAN đã thể hiện sự cố gắng không
mệt mỏi, với tinh thần “ khép lại quá khứ, hướng tới tương lai “ của các bên, nhằm
xây dựng một Đông Nam Á hoà bình, hữu nghị, hợp tác để phát triển. Vào thời
điểm này, nhận thức của các nước ASEAN về việc Việt Nam trở thành thành viên
đầy đủ của ASEAN cũng biểu hiện ở những khía cạnh khác nhau, tuỳ theo lợi ích
của mỗi quốc gia. Inđônêxia, Malaixia cho rằng Việt Nam nói riêng và các nước
Đông Dương nói chung, tham gia ASEAN sẽ có tác dụng chủ yếu trong lĩnh vực
hoà bình, an ninh khu vực. Theo các nước này, Việt Nam là một nước lớn thứ hai ở
khu vực, là nước láng giềng của Trung Quốc, có tiềm lực quốc phòng mạnh đã từng
chiến thắng nhiều nước đến xâm lược nếu trở thành thành viên của ASEAN sẽ có
lợi về an ninh khu vực và Việt Nam sẽ là “ nước đệm “ giữa các nước trong khu
vực và các nước ngoài khu vực. Trong khi đó, Thái Lan và Xingapo xem Việt Nam
là cơ hội tốt để buôn bán và kinh doanh, đầu tư Đặc biệt ban lãnh đạo Thái Lan
đã thay đổi đường lối đối ngoại với Việt Nam, chuyển từ đối đầu sang đối thoại. Ở
Đông Nam Á từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay đã làm xuất hiện và tồn tại
trên lãnh thổ Đông Nam Á hai quan điểm khác nhau về tư tưởng - chính trị, kinh tế
- xã hội. Việc buôn bán giữa các quốc gia trong khu vực sẽ giúp khắc phục tình
trạng trên. Nghĩa là qua buôn bán, hai nhóm nước ASEAN và Đông Dương sẽ hội
nhập vào nhau để chỉ còn một Đông Nam Á thống nhất. Quan hệ song phương giữa
từng nước ASEAN với Việt Nam không giống nhau, dẫn đến cách nhìn Việt Nam
cũng khác nhau. Trong khi đó, ASEAN chưa phải là tổ chức siêu quốc gia chỉ đạo
các hội viên, mà chỉ là cơ quan phối hợp các hoạt động của hội viên dung hoà
quyền lợi dân tộc giữa các nước hội viên với nhau và quyền lợi dân tộc của từng
nước với quyền lợi tập thể của 6 nước, bàn bạc và quyết định công việc theo
phương pháp nhất trí.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Hiện nay, do tình hình an ninh, kinh tế khu vực Đông Nam Á và thế giới đã
biến đổi, ASEAN đang phải đối phó với các vấn đề khác ở tầm vĩ mô quan trọng
hơn. Đó là tham gia xây dựng cơ cấu an ninh toàn khu vực Châu Á- Thái Bình
Dương thông qua phát triển, với mục đích đề cao vai trò và uy tín của ASEAN.
Ngoài ra, các nước ASEAN mong muốn củng cố chỗ đứng của mình ở APEC, tìm
biện pháp để chống bảo hộ mậu dịch, chuẩn bị xây dựng vành đai kinh tế và an
ninh.
Thời gian qua, các nước ASEAN cũng quan tâm ở đường lối đối ngoại của
Việt Nam với các nước lớn. Theo họ nếu Việt Nam chưa có cách xử lý thích hợp
liên quan với các nước lớn trong chính sách đối ngoại, tức là Việt nam và ASEAN
chưa có cách nhìn nhận, cũng như các biện pháp cụ thể giống nhau đối với các
nước lớn, do vậy sự gia nhập ASEAN của Việt Nam chưa được chín muồi. Đối với
các nước lớn, các nước ASEAN đặc biệt quan tâm đến thái độ của Trung Quốc về
việc Việt Nam gia nhập ASEAN.
Việc Việt Nam tham gia vào Hiệp ước Bali thể hiện cam kết của Việt Nam
với những nguyên tắc được Việt Nam nêu ra trước đó trong chính sách 4 điểm của
mình năm 1976. Điều đó cũng làm tăng sự tin cậy của các nước ASEAN và các
nước ngoài khu vực đối với Việt Nam. Trong giai đoạn này, quan hệ Việt Nam -
ASEAN phát triển mạnh mẽ cả trong lĩnh vực song phương và đa phương. Thương
mạiViệt Nam- ASEAN tăng từ 989 triệu USD năm 1990 lên 2.441 triệu USD năm
1994.
Ngày 11/7.1993, ông Gô- Chốc- Tông, Thủ tướng nước Cộng Hoà Xingapo
đã trả lời phỏng vấn ASEAN không và sẽ không trở thành một khối quân sự. Thế
nhưng, những tham khảo giữa các quan chức quốc phòng và quân sự sẽ tạo ra một
môi trường tin cậy lẫn nhau. Một điều tế nhị là ASEAN không muốn trở thành một
số nước chống Trung Quốc. Do vậy, ASEAN buộc phải thận trọng khi Việt Nam
muốn gia nhập ASEAN.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Những ý kiến trên đây cho đến trước Hội Nghị Ngoại trưởng thường kỳ lần
thứ 27 của ASEAN được xem là những quan điểm của các nước ASEAN chưa nhất
trí để Việt Nam gia nhập ASEAN.
Từ năm 1993, ASEAN lập cơ chế họp hiệp thương giữa ASEAN và Việt
Nam nhân dịp Hội Nghị Ngoại trưởng ASEAN. Tại Hội Nghị Ngoại trưởng
ASEAN lần thứ 26 tại Xingapo năm 1993, Việt Nam đã được mời tham dự diễn
đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF: ASEAN Regional Forum) để bàn về các vấn
đè trính trị và an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Việt Nam được coi là
trong những nước sáng lập diễn đàn này. Ngoài ra, ASEAN cũng còn mời Việt
Nam tham gia các chương trình và dự án hợp tác ASEAN trên 5 lĩnh vực khoa học-
công nghệ, môi trường, y tế, văn hoá, thông tin và du lịch.
Để tạo môi trường thuận lợi hơn nữa cho sự tham gia của Việt Nam vào quá
trình hợp tác khu vực, nhất là vào ASEAN, từ tháng 2/1993, các vị lãnh đạo cao
nhất của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tuyên bố “ Việt Nam sẵn sàng tham gia
ASEAN vào thời điểm thích hợp “. Tuyên bố này đã được ASEAN, dư luận khu
vực và quốc tế đánh giá cao. Đáp lại các nước ASEAN tuyên bố “ muốn thấy Việt
Nam sớm gia nhập ASEAN ”
Với những bước phát triển ngày càng tích cực và thuận lợi trong quan hệ
song phương và đa phương giữa Việt Nam và ASEAN, tháng 4/1994 Chủ Tịch
nước Lê Đức Anh trong chuyến thăm chính thức Inđônêxia đã tuyên bố: “ cùng với
sự hỗ trợ tích cực của ASEAN, Việt Nam đang xúc tiến các công việc chuẩn bị
thiết thực để sớm trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN ” (
1
). Điều này cho thấy
thái độ tích cực và chân thành của Việt Nam trong việc gia nhập ASEAN.
Trong thời gian này, các nước thành viên ASEAN đều tuyên bố ủng hộ
hoàn toàn việc Việt Nam gia nhập ASEAN. Các nước ASEAN đều khẳng định sự
khác nhau về chế độ chính trị không phải là trở ngại đối với Việt Nam gia nhập
1
. Phạm Đức Th nh. Vià ệt Nam - ASEAN. NXB KHXH, 1996, trang 38.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ASEAN mà ngược lại còn góp phần phát triển hơn nữa sự hợp tác bên trong
ASEAN.
Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại Giao ASEAN lần thứ 27 tại Băng Cốc (từ
ngày 22-23/7/1994), các nước ASEAN nhất trí tuyên bố sẵn sàng công nhận Việt
Nam là thành viên chính thức của ASEAN.
Trải qua bao nhiêu giai đoạn phát triển trong quan hệ Việt Nam- ASEAN,
đến tháng 7/1994 việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã đạt được sự nhất trí từ hai
phía. Sau khi Hội Nghị AMM lần thứ 27, Việt Nam đã được mời tham dự cuộc họp
đầu tiên của diễn đàn ARF (ASEAN Regional Forum: Diễn đàn an ninh khu vực
ASEAN) diễn ra ngay sau đó tại Băng Cốc.
Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN chỉ còn là thời
gian và thủ tục, chứ không phải là vấn đề nguyên tắc và chính sách. Thủ tướng
Xingapo Gô - Chốc - Tông cho rằng “có được ASEAN với toàn thể 10 nước thành
viên khu vực Đông Nam Á là hãnh diện ”, “ASEAN phải vươn tới đội hình lớn để
giành lấy sự kính trọng của thế giới ” (
1
). Trong buổi gặp gỡ giữa Ngoại trưởng
Việt Nam với Ngoại trưởng các nước ASEAN ngày 23/7/1994, Ngoại trưởng
Xingapo là G. Gêyacuma phát biểu: “ việc Việt Nam gia nhập ASEAN sẽ là một
đóng góp quan trọng vào việc xây dựng Đông Nam Á hoà bình, hợp tác và phồn
vinh ” (2).
Năm 1994, quan hệ Việt Nam - ASEAN phát triển toàn diện. Trung bình mỗi
tháng có 2 cuộc viếng thăm cấp cao giữa hai bên. Cho đến nay có khoảng 40 Hiệp
định hợp tác song phương và đa phương đã được ký kết. Buôn bán hai chiều 6
tháng đầu năm 1994 đạt trên 1 tỷ USD, trong đó cân bằng xuất và nhập. Đầu tư của
ASEAN vào Việt Nam đến hết quý II năm 1994 là 1,433 tỷ USD. Tháng 9/1994
Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký quyết định Vụ ASEAN thuộc Bộ Ngoại Giao để phối
hợp hoạt động giữa Việt Nam và ASEAN. Ngày 25/4/1994, lần đầu tiên Việt Nam
1
(1) , (2). Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - ASEAN. NXB Thống Kê 1997, trang 36, 37.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tham dự Hội Nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN lần thứ 26 ở Chiềng - Mai (Thái
Lan). Tại Hội Nghị này, những vấn đề chuẩn bị cho Việt Nam gia nhập ASEAN đã
được đề cập một cách rộng rãi. Đồng chí Nguyễn Mạnh Cầm Uỷ viên Bộ Chính Trị
Đảng Cộng Sản Việt Nam, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao cho biết: chúng ta cần phải
tiếp tục tìm hiểu sâu hơn và làm quen hơn nữa với toàn bộ cơ cấu tổ chức, các quy
định, thủ tục và cơ chế hoạt động của ASEAN. Điều khá quan trọng là chuẩn bị
một đội ngũ đông đảo cấp cao, các ngành có năng lực và có trình độ tiếng Anh đủ
để tham gia công việc của các Uỷ ban, thực hiện các dự án và hàng trăm cuộc họp
mỗi năm của ASEAN.
Ngày 17/10/1994 Bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Mạnh Cầm gửi thư cho
Ngoại trưởng Brunây, Chủ tịch đương nhiệm Uỷ Ban thường trực ASEAN (ASC)
chính thức đặt vấn đề Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN. Các nước
ASEAN rất hoan nghênh quyết định của Việt Nam và cùng Việt Nam gấp rút chuẩn
bị các thủ tục cần thiết cho việc Việt Nam gia nhập ASEAN.
Ngày 12/1/1995, Bộ trưởng Ngoại Giao Brunây gửi thư chính thức thông
báo lễ kết nạp Việt Nam vào ASEAN sẽ được tổ chức nhân dịp Hội Nghị Bộ
trưởng Ngoại giao ASEAN lần 28 ở Brunây vào tháng 7/1995. Tại Hội Nghị Bộ
trưởng Ngoại giao lần thứ 28, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 7 của
ASEAN.
Như vậy, với việc Việt Nam gia nhập ASEAN, quan hệ Việt Nam- ASEAN
giờ đây đã bước sang một chương mới: quan hệ giữa các nước thành viên của một
tổ chức khu vực ASEAN. Tuy nhiên, để nhanh chóng hoà nhập thực sự vào khu
vực, Việt Nam cần phải tham gia tích cực vào các hoạt động của ASEAN cũng như
nâng cao sự hiểu biết của mình về khu vực để việc hợp tác đem lại hiệu quả hơn.
II. Ý NGHĨA CỦA VIỆC VIỆT NAM GIA NHẬP ASEAN
Thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá, chủ
động tích cực hội nhập khu vực và quốc tế, tháng 7/1995 Việt Nam chính thức gia
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nhập ASEAN, đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử Đông Nam Á. Với sự chủ
động trong công tác hội nhập khu vực, ta đã phát huy các lợi thế trong hợp tác với
ASEAN, góp phần nâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế. Hơn nữa, gia nhập
ASEAN, đó chính là yếu tố thúc đầy quá trình hoà nhập của Việt Nam vào thị
trường khu vực và thế giới. Nó có ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn không chỉ đối với
Việt Nam mà cả khu vực.
Việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã góp phần vào việc củng cố xu thế hoà
bình và hợp tác khu vực, tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi
mới, xây dựng kinh tế và bảo vệ đất nước. Tham gia ASEAN đã bổ trợ cho các mối
quan hệ song phương của ta với các nước láng giềng trong khu vực, tăng cường
hiểu biết và thông cảm lẫn nhau, góp phần cải thiện cơ bản và thúc đẩy mạnh mẽ
quan hệ hữu nghị hợp tác của nước ta với các nước này. Mặt khác, trở thành thành
viên của ASEAN, Việt Nam có cơ hội thúc đẩy và tăng cường hơn nữa mối quan
hệ tay đôi với các nước ngoài ASEAN, các tổ chức quan trọng và khu vực khác,
trên các lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế - xã hội; tham gia các Hiệp định hợp
tác của ASEAN với các bên đối thoại như: EU, Canađa, Ôtxtrâylia, cũng như
hàng trăm các dự án hợp tác cụ thể được các bên đối thoại tài trợ.
Thông qua các hình thức hợp tác kinh tế, Việt Nam có thể tiếp cận được
những biện pháp quản lý trong một số lĩnh vực vốn là thế mạnh của một số nước
ASEAN. Ngoài ra, Việt Nam có thể học được những kinh nghiệm của từng nước
như kinh nghiệm của Thái Lan, Philippin về nông nghiệp và công nghiệp chế biến,
nông sản; kinh nghiệm của Malaixia và Xingapo về du lịch, dịch vụ, kinh nghiệm
của Xingapo về tổ chức thị trường vốn, kinh nghiệm của Malaixia về chế biến và
xuất khẩu khoáng sản
Như vậy, việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã thể hiện một sự cam kết mạnh
mẽ đối với các mục đích và mục tiêu của ASEAN. Sự cam kết này đã góp phần
không nhỏ vào việc thúc đẩy hoà bình và ổn định ở Đông Nam Á.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM - ASEAN TỪ 1990 ĐẾN
NAY
I. QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - ASEAN TỪ 1990 ĐẾN NAY
1. Ngoại thương Việt Nam với ASEAN
Sau khi tình hình thế giới có những biến chuyển lớn (sự sụp đổ của Liên
Xô và các nước Đông Âu), với chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước ta, thị
trường ngoại thương Việt Nam đã có sự chuyển hướng cơ bản: từ thị trường truyền
thống là Liên Xô và Đông Âu chuyển sang thị trường Châu Á - Thái Bình Dương
và một số khu vực, quốc gia khác.
Tháng 7/1995 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của ASEAN. Kể
từ đó, các quan hệ hợp tác giữa nước ta với các nước thành viên trong khu vực phát
triển nhanh chóng.
Về phương diện mậu dịch tính chung từ 1990 đến nay, buôn bán giữa Việt
Nam và các nước ASEAN tăng với tốc độ trung bình là 26,8% và hiện nay chiếm
tới 32,4% (tức gần 1/3) toàn bộ kim ngạch ngoại thương của Việt Nam. Nếu so với
năm 1994, trước khi Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN, kim ngạch buôn
bán giữa Việt Nam và ASEAN đã tăng gấp 2,54 lần về quy mô tốc độ giá trị, đạt
tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm rất cao, gần 7,7%. Mức tăng trưởng bình
quân thời kỳ 1992 - 1995 là 26%, chiếm hơn 25% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
của Việt Nam.
Đến năm 1995 tổng giá trị buôn bán giữa Việt Nam và ASEAN là 3,490
tỷ USD, chiếm 23,9% tổng kim ngạch buôn bán của Việt Nam với thế giới, trong
đó kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam với ASEAN với ASEAN lần
lượt là 1,12 và 2,378 tỷ USD (Bảng 1).
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Bảng 1: Kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và ASEAN
Năm
Xuất
khẩu
(tỷ USD)
Nhập
khẩu
(tỷ USD)
Tổng kim
ngạch
buôn bán
(tỷUSD)
Tỷ lệ % so với tổng
kim ngạch của Việt
Nam với thế giới
(%)
1995 1,112 2,378 3,490 23,9
1996 1,364 2,788 4,152 33,4
1997 1,911 3,166 5,077 25,5
1998 2,372 3,749 6,122 29,7
1999 2,463 3,288 5,751
Nguồn: Hội thảo 5 năm Việt Nam tham gia ASEAN, Học Viện Quan hệ Quốc tế Hà Nội,
20/6/2000.
Đến cuối năm 1996, chỉ hơn một năm sau khi Việt Nam trở thành thành
viên chính thức của ASEAN thì tổng kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và
ASEAN đã tăng lên đến 4,152 tỷ USD tương đương với 33,4 % tổng kim ngạch
buôn bán của Việt Nam với thế giới, tăng gấp 1,2 lần về số tương đối và tăng xấp
xỉ 0,7 tỷ USD về số tuyệt đối so với năm 1995. Riêng về danh mục hàng hoá xuất
khẩu của Việt Nam vào thị trường ASEAN hàng năm cũng gia tăng nhanh chóng.
Từ con số 0 đến nay chúng ta đã có tới 200 mặt hàng được đánh giá là có khả năng
tạo được chỗ đứng trên thị trường quốc tế. Các mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất
sang các nước ASEAN như sau:
- Với Xingapo: Việt Nam thường xuất các mặt hàng như: thiếc, dầu thô, cao su,
hạt tiêu, tôm đông lạnh, cà phê, chè. Ngược lại, Xingapo bán cho Việt Nam:
xăng, dầu, thép, phân bón hoá học, xăm lốp ô tô.
- Với Thái Lan: Việt Nam xuất khẩu: than, thiếc và mua của Thái Lan các mặt
hàng: phân bón hoá học, xe gắn máy, tân dược.
- Với Malaixia: Việt Nam xuất khẩu: gạo, cao su, than và mua các mặt hàng của
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Malaixia: phân bón hoá học, xăng dầu các loại.
- Với Philippin: Việt Nam có rất ít các hàng xuất khẩu, chủ yếu là gạo và nhập
khẩu: phân bón hoá học.
Nhìn chung các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam với các nước ASEAN
chỉ có Xingapo là thị trường tương đối phong phú. Các thị trường còn lại rất đơn
điệu về chủng loại mặt hàng.
2. Quan hệ thương mại giữa Việt Nam với từng nước ASEAN
2.1. Quan hệ thương mại Việt Nam - Xingapo
Xingapo là bạn hàng lớn nhất của Việt Nam trong khối ASEAN. Hai nước
đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức vào tháng 8/1973, sau đó đã ký với nhau
nhiều hiệp định thương mại và kinh tế. Quan hệ buôn bán giữa hai bên tăng nhanh
từ năm 1990 đến nay. Giá trị xuất nhập khẩu giữa hai nước tăng từ 112 triệu USD
năm 1989 lên tới 691 triệu USD năm 1990 và đạt cao nhất tới 3,517 triệu USD năm
1998, gấp 31,4 lần năm 1989 (Bảng 2).
Bảng 2: Xuất nhập khẩu Việt Nam - Singapo
Đơn vị: triệu USD và %
1990 1992 1994 1996 1998 1999
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Tổng số
% trong ASEAN
194,5
497,0
691,5
77,8
401,7
821,6
1.223,3
80,5
593,5
1.145,8
1.739,3
67,3
1.250,0
2.032,6
3.322,6
69,7
1,080
2,437
3.517
57,4
822
1,883
2.705
47,0
Nguồn: Tổng cục Thống Kê, Hà Nội, 1999.
Trong giai đoạn 1990 - 1998 kim ngạch buôn bán giữa hai nước liên tục
tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong kim ngạch tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu của Việt Nam với ASEAN. Năm 1990 là 77,8%; năm 1992 là 80,5%; năm
1996 là 69,7%; năm 1998 là 54,4% và năm 1999 là 47%. Có thể thấy kim ngạch
hai chiều tăng hơn 1,5 lần từ năm 1993 đến năm 1998 (2,1 tỷ USD Singapore năm
1993 lên 3,2 tỷ USD năm 1998). Nhưng từ năm 1997 - 1998 do cuộc khủng hoảng
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét