Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014
Nghiên cứu vể hoạt động cho thuê tài chính tại TPHCM năm 1997 đến nay
5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.1. Lòch sử hình thành và phát triển của hoạt động cho thuê tài chính:
Mặc dù thời gian xuất hiện giao dòch cho thuê đầu tiên vẫn chưa được xác
đònh một cách chính xác nhưng theo những ghi nhận sớm nhất về việc cho thuê tài
sản trong các tòch thư cổ thì những giao dòch này đã xuất hiện từ trước năm 2000
trước Công nguyên tại thành phố Sumerian cổ xưa. Theo đó, người ta cho thuê
những dụng cụ nông nghiệp, quyền sử dụng đất và nguồn nước, gia súc và các loại
thú khác.
Đến năm 1700 trước Công nguyên, Hammurabi vò vua nổi tiếng của Babylon
đã kết hợp những quy đònh về cho thuê tài sản của người Sumerian và người
Achaian để soạn thảo ra bộ luật đầu tiên về cho thuê tài sản.
Tuy vậy, hoạt động cho thuê tài sản chỉ thực sự có những bước phát triển
nhảy vọt từ năm 1952 khi công ty cho thuê tài chính đầu tiên United State Leasing
Corporation được thành lập tại Mỹ và tiếp theo là công ty Leasing and Percantile
Credit tại Anh. Sau đó loại hình cho thuê tài chính lan rộng khắp Tây Âu và đến
năm 1963 thì đặt chân đến Châu Á bằng việc ra đời công ty Orient Leasing tại
Nhật Bản.
Ngày nay, thuật ngữ cho thuê tài chính đã trở nên phổ biến và được biết đến
trên hầu khắp thế giới với sự tham gia của các tập đoàn tài chính lớn cũng như các
ngân hàng đa quốc gia. Tốc độ phát triển của cho thuê tài chính liên tục tăng cao
và được mở rộng đến hầu khắp các nước trên thế giới. Xét trên toàn thế giới,
6
doanh số của hoạt động cho thuê tài chính đạt tới 500tỷ USD/ năm, phân bổ theo
các khu vực:
Khu vực Bắc Mỹ: Bắc Mỹ là khu vực đứng đầu thế giới về doanh số cho thuê
tài chính, chiếm 43% doanh số toàn cầu. Chỉ riêng thò trường Mỹ, công nghệ thuê
mua đã mang lại khoảng 140 tỷ USD thuê mới mỗi năm và đáp ứng cho một phần
ba nhu cầu đầu tư tài sản của Mỹ. Cho thuê máy vi tính đang dẫn đầu thò trường
cho thuê tại Mỹ, tiếp theo là máy bay, xe container đi kèm re-mooc và các loại
máy văn phòng. Bốn loại tài sản trên chiếm hơn 50% nhu cầu thuê mua của thò
trường Mỹ. Có một chút khác biệt tại thò trường Canada, trình tự tài sản cho thuê là
phần cứng, phần mềm máy tính, máy văn phòng và các phương tiện vận chuyển.
Thực ra, thò phần cho thuê tài chính tại Canada đang có xu hướng giảm so với ngân
hàng. Điều này một phần do chính sách hoạt động hiệu quả của ngân hàng, nhưng
phần lớn là do chính sách thuế thu nhập của Canada, theo đó bên cho thuê tại
Canada phải chòu nhiều bất lợi về thuế thu nhập so với bên cho thuê tại các nước
khác. Còn tại Mexico, tốc độ tăng trưởng của cho thuê tài chính trong năm năm qua
luôn đạt hơn 30%, giúp Mexico đứng trong top 20 thế giới về doanh số cho thuê tài
chính.
Khu vực Châu Âu: Xét về mặt doanh số, Châu Âu là một trong ba thò trường
thuê mua lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 25% doanh số toàn thế giới. Theo những
số liệu thống kê gần nhất, tín dụng thuê mua là nguồn tài trợ lớn thứ hai cho việc
đầu tư tài sản tuy đã có một sự sút giảm nhẹ trong một vài năm vừa qua (đứng đầu
là cho vay trực tiếp). Trong đó, ta có thể thấy nền công nghiệp cho thuê tài chính
của các nước Đức, Anh, Pháp và Ý đứng trong top 10 thế giới. Tuy vậy, lại có một
sự khác biệt rất lớn tại các nước Đông u, tại đây cho thuê tài chính mới chỉ là
7
đang đặt nền móng (ngoại trừ Hungary là quốc gia có công nghệ cho thuê tài chính
tiến gần đến tiêu chuẩn của Tây Âu).
Khu vực Châu Á: Tiếp theo là thò trường Châu Á với tỷ lệ tăng trưởng cao
đều đặn, và hiện đã đạt mức 25% doanh số thế giới, tập trung chủ yếu ở các nước
công nghiệp mới: Hàn Quốc, Hongkong, Đài Loan và Singapore. Công nghệ cho
thuê tài chính đã phổ biến ở 18 nước Châu Á và 14 trong số đó đứng trong top 50
thế giới về doanh số. Nhật Bản chính là nước đứng đầu khu vực, tiếp theo là Hàn
Quốc với 60% tài sản thuê tài chính là máy móc thiết bò. Trung Quốc cũng là một
thò trường đang trên đà phát triển, đặc biệt là nhờ vào sự kiện thu hồi Hongkong
năm 1997. Nền kinh tế Trung Quốc đang có những bước phát triển nhảy vọt và tín
dụng thuê mua được mong đợi sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc đầu tư nhà
máy và máy móc thiết bò mới.
Khu vực Nam Mỹ: Các quốc gia Nam Mỹ cũng có những bước phát triển
mạnh mẽ từ những năm 1990s, chiếm 4% doanh số thế giới, đặc biệt là Brazil (nằm
trong top 10 thế giới về doanh số cho thuê tài chính), Chile và Colombia cũng đang
thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển công nghệ cho thuê tài chính. Riêng
Argentina đang phải tái lập lại ngành cho thuê tài chính sau những cuộc khủng
hoảng kinh tế cuối 1980s, đầu 1990s.
Khu vực Châu Phi: Nam Phi là nước đứng đầu Châu Phi với một chỗ đứng
trong top 20 thế giới. Ngoài ra, Maroc và Malawi là những nước Châu Phi duy nhất
lọt vào top 50. Nguyên nhân là do những bất ổn về chính trò và kinh tế của khu vực
này dù đã có nhiều sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế.
Khu vực Châu Úc và New Zealand: hai quốc gia này chiếm 2% doanh số cho
thuê tài chính của thế giới. Nền kinh tế của khu vực này đang hồi phục dần sau
8
những đợt suy thoái trong những năm đầu thập kỷ 1990s, cụ thể là Úc đang xếp
trong top 10 thế giới về doanh số thuê tài chính.
Như vậy, sau hơn 50 năm tồn tại và phát triển, cho thuê tài chính đã trở
thành một hình thức tài trợ vốn rất hữu hiệu và được các doanh nghiệp ưa chuộng.
Trong giao dòch cho thuê tài chính, các công ty cho thuê tài chính không chỉ cho
thuê những máy móc thiết bò, phương tiện vận chuyển thông thường mà còn có thể
cho thuê cả những nhà máy hoàn chỉnh, những chiếc máy bay thương mại khổng lồ
hay những tàu biển xuyên đại dương… Ỉ Tín dụng thuê mua đã trở thành phổ biến
trong các hoạt động kinh tế quốc tế và có những đóng góp đáng ghi nhận vào việc
thúc đẩy sự phát triển sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ.
1.2. Khái niệm và một số hình thức cho thuê tài chính:
1.2.1. Khái niệm:
Thuê tài chính được hiểu là một thoả thuận cho phép bên thuê được sử dụng
tài sản thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê bằng việc thực hiện các khoản chi trả
đònh kỳ được quy đònh cụ thể trong thỏa thuận. Trong đó, quyền sở hữu về mặt
pháp lý đối với tài sản được tách khỏi quyền sử dụng về mặt kinh tế đối với tài sản
đó. Bên cho thuê tập trung xem xét khả năng của bên thuê trong việc tạo ra số thu
đủ để chi trả tiền thuê, không đặt nặng việc đánh giá lòch sử tín dụng, tài sản hay
số vốn của bên thuê. Hình thức tài trợ vốn như vậy đặc biệt thích hợp với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp mới thành lập.
Ngoài ra, còn có một khái niệm khác về cho thuê tài chính xuất phát từ Hiệp
hội cho thuê thiết bò Anh quốc đang được dùng khá phổ biến trên thế giới là “Cho
thuê tài chính là một thỏa thuận giữa người cho thuê và người đi thuê về việc bên
cho thuê (lessor) cho bên thuê (lessee) thuê một tài sản do họ chọn lựa, bên cho
9
thuê nắm giữ quyền sở hữu tài sản đó trong suốt thời gian cho thuê còn bên đi thuê
được quyền sử dụng tài sản và có trách nhiệm thanh toán đầy đủ nhưng chia thành
nhiều lần tổng chi phí mua tài sản và một khoản lợi nhuận cho bên cho thuê”.
Cho thuê tài chính là một hình thức đặc biệt của tín dụng trung dài hạn nên
có sự khác biệt cơ bản so với tín dụng trung dài hạn. Đối với cho thuê tài chính, giá
trò được chuyển giao giữa bên cho thuê và bên thuê là tài sản (hiện vật), còn đối
với tín dụng trung dài hạn, giá trò chuyển giao giữa bên cho vay và bên vay là tiền
mặt (hiện kim).
Cho thuê tài chính đôi khi bò hiểu như một hình thức tín dụng trả góp, tuy
nhiên, giữa cho thuê tài chính và tín dụng trả góp có một sự khác biệt rất lớn:
Thuê tài chính Tín dụng trả góp
Sử dụng cho tài sản có giá trò lớn Tài sản có giá trò tương đối nhỏ
Thời gian thuê tương đối dài (trung và dài
hạn)
Thời gian vay thường dưới 3 năm
Chi phí cho thuê hợp lý và gần tương đồng
với chi phí vay vốn trung dài hạn
Chi phí cao hơn rất nhiều do bên bán trả
góp thường tính lãi theo tỷ lệ lãi kinh
doanh.
Bên thuê có thể hạch toán mọi khoản chi phí
vào chi phí hoạt động do mọi khoản chi đều
có đầy đủ hoá đơn chứng từ.
Do Nhà nước đã khống chế lãi suất trần
nên bên mua trả góp sẽ không được
hạch toán phần tiền lãi dôi ra so với
mức lãi suất trần quy đònh.
Bên thuê chỉ chòu thuế trước bạ một lần khi
thuê tài sản, sau khi hết thời gian thuê, bên
thuê sẽ không phải đóng thuế lần nữa khi
chuyển quyền sở hữu tài sản.
Bên mua trả góp phải đóng thuế trước
bạ hai lần; một lần khi người bán trả
góp đăng ký; một lần khi chuyển quyền
sở hữu sang cho người mua trả góp.
* Sơ đồ quy trình một giao dòch cho thuê tài chính hoàn chỉnh (xin vui lòng
xem ở trang sau)
1.2.2. Một số hình thức cho thuê tài chính:
10
1.2.2.1. Cho thuê tài chính thuần:
Đây là hình thức cho thuê cổ điển nhưng rất phổ biến, một giao dòch cho
thuê tài chính thường gồm 3 bên: bên cho thuê, bên thuê và nhà cung cấp. Quan hệ
giữa các bên được thể hiện như sau:
- Bên cho thuê và bên thuê: thỏa thuận về các điều kiện thuê: lãi suất,
thời hạn, số tiền bên thuê tham gia vào giá trò thiết bò…
- Bên thuê và nhà cung cấp: thỏa thuận về loại thiết bò: chất lượng, chủng
loại, giá cả, điều kiện giao hàng, chế độ bảo trì bảo hành…
- Bên cho thuê và nhà cung cấp: thỏa thuận về điều kiện thanh toán, chất
lượng thiết bò, thời gian giao hàng, các điều khoản phạt vi phạm hợp đồng…
Hình thức này rất đơn giản, dễ thực hiện, dễ quản lý Ỉ chi phí phát sinh
thấp nên được ưa chuộng nhất.
1.2.2.2. Mua và cho thuê lại:
Trường hợp bên thuê đã dùng vốn tự có để đầu tư vào các loại máy móc thiết
bò, phương tiện vận chuyển dẫn đến thiếu hụt vốn hoạt động kinh doanh, Bên cho
thuê có thể mua những máy móc thiết bò, phương tiện vận chuyển này và các loại
động sản khác thuộc sở hữu của bên thuê và cho bên thuê thuê lại chính những tài
sản đó.
Nếu thực hiện tốt được nghiệp vụ này, doanh nghiệp sẽ có vốn lưu động phục
vụ kinh doanh, các công ty cho thuê tài chính an tâm để cho vay vì hiệu quả của
thiết bò cho thuê gần như đảm bảo chắc chắn.
Tuy vậy, việc bán tài sản cho các công ty cho thuê tài chính làm phát sinh
các khoản thuế VAT, thuế thu nhập từ việc bán tài sản nên chi phí cho việc bán và
tái thuê trở nên khá cao và hình thức cho thuê này trở nên kém hiệu quả.
11
1.2.2.3. Cho thuê trả góp:
Theo thỏa thuận, bên cho thuê sẽ chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản thuê
cho bên thuê sau khi bên cho thuê đã thu được một tỷ lệ nhất đònh tiền thuê tài sản,
đồng thời bên thuê vẫn có trách nhiệm tiếp tục thanh toán khoản tiền còn lại cho
bên cho thuê dưới danh nghóa tiền trả góp mua máy móc thiết bò.
Trong thực tế, phương pháp này cũng không mấy phổ biến do phát sinh
nhiều công đoạn với những thủ tục rườm rà. Hơn nữa, bên cho thuê không muốn
gánh chòu rủi ro khi chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên thuê mà chưa thu hồi đủ
giá trò tài sản, hoặc bên cho thuê sẽ tăng chi phí trả góp để bù lại rủi ro phải chòu
nên phương thức này không còn hấp dẫn.
1.2.2.4. Cho thuê giáp lưng:
Thông qua sự đồng ý của bên cho thuê, bên thuê thứ nhất cho bên thuê thứ
hai thuê lại tài sản mà họ đã thuê của bên cho thuê. Lúc này người thuê thứ nhất
không chòu những rủi ro liên quan trực tiếp đến tài sản thuê nhưng vẫn phải chòu
trách nhiệm như là một người thuê thật sự. Bên cho thuê chú trọng đến người thuê
thứ nhất hơn là người thuê thứ hai và hình thức này thường được sử dụng trong
trường hợp bên thuê thứ nhất không còn nhu cầu sử dụng đối với tài sản thuê, họ
tìm bên thứ hai để trút bỏ gánh nặng tiền thuê.
Phương thức này giúp tận dụng hết giá trò sử dụng của tài sản thuê, giúp các
doanh nghiệp không đủ điều kiện thuê tài chính vẫn được sử dụng tài sản phù hợp
với nhu cầu của mình, đồng thời bên cho thuê vẫn đảm bảo thu hồi được nợ của
mình. Tuy nhiên, khi qua một người thuê khác, bên cho thuê sẽ khó kiểm soát tình
trạng của tài sản thuê hơn nên trong thực tế hình thức này thường được thực hiện
theo cách bên thuê thứ nhất sang nhượng hợp đồng thuê tài chính cho bên thứ hai.
12
Bên cho thuê thẩm đònh tình hình hoạt động của bên thuê thứ hai rồi đưa ra quyết
đònh về việc sang nhượng hợp đồng. Nếu hợp đồng đã được sang nhượng thì bên
thuê thứ nhất không còn trách nhiệm gì đối với bên cho thuê nữa, bên cho thuê coi
bên thuê thứ hai như là bên thuê thứ nhất.
1.3. Những rủi ro thường gặp của cho thuê tài chính:
Mọi hoạt động kinh doanh đều chứa đựng ít nhiều yếu tố rủi ro, và cho thuê
tài chính cũng không phải là ngoại lệ. Rủi ro trong cho thuê tài chính chính là khả
năng bên cho thuê không thu được đầy đủ giá trò dự kiến. Điều đó có thể xuất phát
từ bên thuê, từ nhà cung cấp, từ chính tài sản thuê, từ việc sử dụng tài sản của bên
thứ ba, và cũng có thể xuất phát từ môi trường kinh doanh, từ việc tăng trưởng hay
suy thoái của một ngành công nghiệp, của cả nền kinh tế, từ việc thay đổi của lãi
suất, tỷ giá hối đoái, từ những điều chỉnh của pháp luật. Ngoài những rủi ro mang
tính hệ thống mà không thể giảm thiểu được bằng cách đa dạng hoá, phần lớn còn
lại là những rủi ro không hệ thống mà các công ty cho thuê tài chính có thể giảm
thiểu bằng cách đa dạng hoá danh mục khách hàng thuê:
- Rủi ro do năng lực quản lý kém của bên thuê: điều này dẫn đến việc nhà
quản trò đưa ra những quyết đònh kinh doanh không phù hợp. Loại rủi ro này thường
thấy ở những doanh nghiệp mới thành lập, ở những người quản lý thiếu kinh
nghiệm, chưa được thử thách.
- Rủi ro từ hoạt động sản xuất kinh doanh của bên thuê: điều này phụ thuộc
vào các yếu tố: qui mô của doanh nghiệp, thâm niên hoạt động, tính đa dạng của
hàng hoá, dòch vụ cung cấp, mức độ độc lập đối với sản phẩm thay thế, tính ổn đònh
của nguồn cung cấp và giá nguyên vật liệu, trình độ công nghệ sản xuất và yêu
cầu đối với tay nghề lao động, mức độ cạnh tranh, qui mô thò trường…
13
- Rủi ro tài chính: nảy sinh từ cơ cấu nợ/vốn của doanh nghiệp, rủi ro xảy
ra khi doanh nghiệp không tạo ra đủ doanh thu để trang trải cho các khoản lãi vay
đònh kỳ. Tỷ lệ nợ/vốn cao sẽ làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp nếu doanh
nghiệp đang ở trên mức hoà vốn, ngược lại sẽ gây tổn thất lớn cho doanh nghiệp
nếu doanh nghiệp đang trong tình trạng thua lỗ. Như vậy, mối quan hệ giữa biến
động của điểm hoà vốn với tỷ lệ nợ/vốn sẽ tạo ra mức rủi ro tài chính của doanh
nghiệp.
- Rủi ro từ tài sản cho thuê: một số loại tài sản có mức thay đổi công nghệ
rất nhanh, nếu giá trò giảm dần (vô hình và hữu hình) của tài sản cho thuê giảm
nhanh hơn mức giảm của dư nợ thì đó chính là rủi ro cho bên cho thuê. Ngoài ra,
bên thuê có thể sử dụng tài sản thuê một cách bất hợp pháp hoặc không tuân thủ
các quy phạm kỹ thuật gây thiệt hại đến tài sản, đến sức khoẻ, tính mạng của bên
thứ ba. Mặc dù về nguyên tắc bên thuê phải chòu trách nhiệm về những hậu quả do
mình gây ra, nhưng là người sở hữu tài sản, bên cho thuê có khả năng phải thanh
toán các khoản chi phí mà bên thuê còn chưa thanh toán được. Thông thường,
người đòi bồi thường thích đòi trực tiếp bên cho thuê hơn vì khả năng tài chính của
bên cho thuê nói chung tốt hơn bên thuê.
1.4. Vai trò của hoạt động cho thuê tài chính:
Hoạt động cho thuê tài chính rất được quan tâm trong điều kiện các nước đang
phát triển là vì những lợi ích mà nó mang lại:
1.4.1. Lợi ích đối với nền kinh tế:
1.4.1.1. Thuê mua góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế:
Do hoạt động cho thuê tài chính có mức độ rủi ro thấp xét về tính chất sở
hữu tài sản, phạm vi tài trợ rộng rãi hơn các hình thức tín dụng khác v.v nên cho
14
thuê tài chính có thể khuyến khích các thành phần kinh tế, cá nhân và nhất là các
đònh chế tài chính đầu tư vốn để kinh doanh, và do đó huy động được những nguồn
vốn còn nhàn rỗi trong nội bộ nền kinh tế. Mặt khác trong điều kiện giao lưu quốc
tế ngày nay, tín dụng thuê mua góp phần giúp các quốc gia thu hút các nguồn vốn
quốc tế cho nền kinh tế thông qua các loại máy móc thiết bò cho thuê mà quốc gia
đó nhận được. Đồng thời, hình thức thu hút đầu tư nước ngoài này không làm tăng
khoản nợ nước ngoài của quốc gia nhận được thiết bò cho thuê.
1.4.1.2. Cho thuê tài chính góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ thiết bò, cải
tiến khoa học kỹ thuật.
Thông qua hoạt động cho thuê tài chính các loại máy móc, thiết bò có trình
độ công nghệ tiên tiến được đưa vào các doanh nghiệp góp phần nâng cao trình độ
công nghệ của nền sản xuất trong những điều kiện có khó khăn về vốn đầu tư.
Song mặt khác, trên bình diện vó mô cũng cần có chính sách quản lý chặt chẽ, biện
pháp khoa học để khắc phục những mặt trái của cho thuê tài chính nhất là đối với
các quốc gia chậm phát triển. Do thông tin thiếu, trình độ quản lý yếu, luật pháp
không rõ ràng…, và nhất là trong xu hướng các nước phát triển đang muốn chuyển
giao các công nghệ lỗi thời gây ô nhiễm môi trường, hao tốn nguyên liệu, sử dụng
nhiều lao động, điều kiện an toàn không đảm bảo, sản xuất ra sản phẩm có chất
lượng kém.v.v sang các quốc gia đang phát triển. Do đó, nếu không có chiến lược
chính sách công nghiệp hóa-hiện đại hóa đúng đắn, khoa học; hoạt động cho thuê
tài chính sẽ góp phần gây lãng phí nguồn ngoại tệ hiếm hoi của quốc gia, biến đất
nước thành bãi rác thiết bò công nghiệp.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét